^ Scroll to Top

Nhân bản Kitô Giáo P2


http://gpcantho.com
MỤC II 
  NHỮNG QUY LUẬT SỐNG YÊU
 TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH

A. MƯỜI ĐIỀU RĂN
YÊU TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN
ĐIỀU RĂN 1: Vợ chồng hãy năng tham dự thánh lễ để cầu nguyện: “Lạy Chúa, vì danh dự của Chúa, xin cho con đã yêu thì yêu đến cùng”
(Tv 143/142, 11; Ga 13, 1).
ĐIỀU RĂN 2: Chồng yêu vợ như Đức ki-tô yêu Hội Thánh là thân mình Ngài; vợ kính yêu chồng như Hội Thánh tùng phục Đức Ki-Tô      (x Ep 5, 22-23).
ĐIỀU RĂN 3: Vợ chồng chỉ nên một đểsinh con cho Thiên Chúa, khi mỗi ngày cùng nhau rước Lễ
(x Mt 19, 5; Gl 2, 20; Ga 6, 57)
ĐIỀU RĂN 4: Không biết chăm sóc người trong gia đình, thì đã chối bỏ đức tin và còn tệ hơn người không tin (x 1Tm 5, 8)

ĐIỀU RĂN 5: Khó với mình nhưng quảngđại với Chúa và tha nhân (x 2Cr 6,12).
ĐIỀU RĂN 6: Có bất hòa thì như con nítthôi (x 1Cr 14, 20b).
ĐIỀU RĂN 7: Luôn tặng quà nhau, ít là nở nụ cười trên môi, biểu lộ có Chúa ở cùng                                         (x Lc 1, 28).
ĐIỀU RĂN 8: Nói đúng, làm đúng, chưađủ; còn phải nói khéo, cư xử khéo nữa!                                              (x Cl 4, 6).
ĐIỀU RĂN 9: Đoán ý nhau để phục vụgiống Mẹ Maria            (Lc 1, 39t; Ga 2, 3).
ĐIỀU RĂN 10: Người cha (mẹ) dù có tắtthở, họ vẫn chưa chết, vì họ để lại con cái giống hệt họ                       (Hc 30, 4).

B. GIẢI THÍCH NỘI DUNG
MƯỜI ĐIỀU RĂN YÊU TRONG
ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN
ĐIỀU RĂN 1: Vợ chồng hãy năng tham dự thánh lễ để cầu nguyện: “Lạy Chúa, vì danh dự của Chúa, xin cho con đã yêu thì yêu đến cùng” (Tv 143/142, 11; Ga 13, 1).
- “Chúa cứu con vì danh dự của Chúa” (Tv 143/142, 11). Bởi vì Chúa ban ơn cho ta không phải chỉ vì ta xin Ngài, mà nhất là vì danh dự của Ngài. Ơn Chúa ban vì danh dự của Ngài chắc chắn ơn ấy lớn hơn lòng ta mơ ước. Ví dụ cha mẹ tổ chức tiệc cưới cho con, không phải vì con xin cha mẹ, mà cha mẹ tổ chức tiệc cưới còn là danh dự của cha mẹ đối với khách đến dự.
- “Đã yêu là yêu đến cùng” (Ga 13, 1). Thiên Chúa yêu ta đến cùng khi Ngài trao ban Con Một Ngài cho loài người độc ác, dù Ngài biết chúng hành hạ Con Một Ngài cách dã man, nhục nhã, cuối cùng phải chết, để thể hiện sự toàn năng chỉ có Thiên Chúa biến dữ ra lành, biến chết ra sống, và chỉ có Thiên Chúa là Tình Yêu (x 1Ga 4, 8). Tình yêu ấy được thể hiện qua việc Chúa Cha hiến ban Con Một Ngài cho chúng ta, và Ngài còn gia ân vạn sự cho chúng ta làm một với Ngài (x Rm 8, 32).
ĐIỀU RĂN 2: Chồng yêu vợ như Đức Ki-tô yêu Hội Thánh là thân mình Ngài; vợ kính yêu chồng như Hội Thánh tùng phục Đức Ki-Tô (x Ep 5, 22-23).
Vợ chồng yêu nhau phải trung thành với nhau cho đến chết, vì để diễn tả khuôn mặt sống động Hội Thánh Chúa Ki-tô lữ hành: Chồng là hiện thân Chúa Ki-tô, vợ là hiện thân những người được Chúa Ki-tô cứu độ, dù bạn trăm năm của mình có phản bội, như bà Gô-mơ, một gái điếm, luôn bỏ ông Hô-sê là chồng, để ruổi theo các tình lang, mà ông Hô-sê vẫn luôn tha thứ cho vợ và tìm hết cách đưa vợ về đường ngay nẻo chính (x sách Hô-sê).
Chúa Ki-tô yêu Hội Thánh, yêu ta còn tuyệt vời hơn ông Hô-sê yêu vợ, bởi lẽ ông Hô-sê chưa chết vì vợ phạm tội ngoại tình, trái lại, Chúa Giê-su đã chết vì tội ta hằng phản bội Ngài (x Rm 7, 18-19), và nếu ta bất tín với Ngài, Ngài vẫn trung thành vì Ngài không thể chối bỏ chính mình (x 2Tm 2,13). Nếu cả hai vợ chồng đồng ý với nhau: mỗi người đi kết hôn với người khác thì có hạnh phúc hơn, đó là công bằng. Nhưng họ đã chối bỏ đức tin, phạm đến Chúa và sự thánh thiện của Hội Thánh, vì ngày Thành Hôn của họ trước mặt Chúa và Hội Thánh, họ đã thề với nhau: Khi vui cũng như lúc buồn, phải trung thành với nhau cho đến chết, để diễn tả mầu nhiệm Hội Thánh Chúa Ki-tô: Ngài không bao giờ rẫy từ Hội Thánh, dù chúng ta có phản bội Ngài!
Vậy “chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ cũng phải tròn bổn phận đối với chồng” (1Cr 7, 3)

ĐIỀU RĂN 3: Vợ chồng chỉ nên một để sinh con cho Thiên Chúa, khi mỗi ngày cùng nhau rước lễ (x Mt 19, 5; Gl 2, 20; Ga 6, 57)
Bí tích Hôn Phối làm cho vợ chồng trở thành một thân thể (x Mt 19, 5). Trong thực tế, họ chỉ thực sự nên một khi cùng rước lễ mỗi ngày, Chúa làm cho họ trở nên một xương một thịt với Ngài (x Dt 2, 11), cùng thông hiệp một sự sống với Thiên Chúa (x Ga 6, 57) để mỗi khi họ trao thân cho nhau, Chúa Giê-su Thánh Thể giúp họ thể hiện cho thế gian biết con cái của họ sinh ra là chính nhờ Chúa Giê-su tác hợp nên một trong Ngài, và như thế con cái họ xứng đáng là hồng ân Chúa ban (x Tv 127/126, 3).

ĐIỀU RĂN 4: Không biết chăm sóc người trong gia đình, thì đã chối bỏ đức tin và còn tệ hơn người không tin (x 1Tm 5, 8)
Chăm sóc người thân không chỉ dừng lại ở mức độ nhân bản, mà còn vươn lên mức độ đức tin trong đức ái. Đan cử: Ông Gia-kêu bán tài sản chia cho người nghèo một nửa, Chúa chúc lành cho cả gia đình ông được ơn cứu độ. Như thế, nếu ông Gia-kêu chỉ dành tiền để nuôi vợ con, thì chỉ nuôi sống thân xác những người trong gia đình ở đời này mà thôi (x Lc 19, 1-10). Nhất là ta phải bắt chước Chúa Giê-su, có lúc Ngài trốn cha mẹ đi loan báo Tin Mừng, rồi trở về gia đình tùng phục Thánh Giuse và Mẹ Maria, Ngài vẫn là mẫu người con hiếu thảo đối với cha mẹ trần thế (x Lc 2, 41-52).
Bổn phận ông bà, cha mẹ và anh chị còn phải biết dùng Lời Chúa nuôi dưỡng và giáo dục những người trong gia đình. Thánh Phao-lô đã khen Giám mục Ti-mô-thê: “Đức tin của anh không bôi bác, lòng tin đã có nơi bà cụ Lô-ít, bà của anh, nơi bà Êu-ni-khê, mẹ của anh” (2Tm 1, 5).

ĐIỀU RĂN 5: Khó với mình nhưng quảng đại với Chúa và tha nhân (x 2Cr 6, 12).
Vì như thế, ta bắt mình phải sống ngược với bản tính tự nhiên, bởi lẽ ai cũng quảng đại với mình, khó với Chúa và đồng loại. Ví dụ: Ta có giờ ngồi chơi hay ăn nhậu, mà lại không có giờ học giáo lý hay nghe giảng, và càng không có thời giờ để giúp đồng loại một việc nhỏ! Hoặc khi ta có lỗi, ít để ý sám hối, trái lại khi ta biết ai sai lầm, ta dễ dàng kết án và khó tha thứ cho họ.

ĐIỀU RĂN 6: Có bất hòa thì như con nít thôi(x 1Cr 14, 20b).
  Trẻ con chơi với nhau dễ gây lộn, có khi chúng cấu xé nhau, khóc inh ỏi, rồi đi mách ông bà cha mẹ, nhưng chỉ sau một lát chúng lại chơi với nhau rất vui vẻ. Trái lại, người lớn khi bất hòa với ai, bề ngoài thì tay bắt mặt mừng, nhưng trong thâm tâm lại tìm mưu tính kế hại người.

ĐIỀU RĂN 7: Luôn tặng quà nhau, ít là nở nụ cười trên môi, biểu lộ có Chúa ở cùng (x Lc 1, 28).
  Tặng quà cho nhau. Thánh Phao-lô trong suốt cuộc đời rao giảng Tin Mừng, ông chỉ nhắc lại một lời Chúa Giê-su dạy: “Cho thì có phúc hơn là lấy!”(Cv 20, 35). Bởi vì đạo Chúa là đạo yêu, mà mặt nổi của tình yêu là tặng quà, ở đâu có tình yêu ở đấy có quà tặng, Thiên Chúa tạo dựng vạn vật trong vũ trụ rất tốt đẹp, Ngài ban tặng hết cho mọi người (x St 1.2); khi loài người phản bội Chúa, Ngài tặng ban cả Con Một để cứu họ (x St 3, 15; Rm 8, 32); khi loài người loại trừ Con Một Thiên Chúa, Ngài lại tặng ban Thánh Thần, giúp họ sám hối canh tân, kết hợp với Chúa Giê-su Phục Sinh hầu được ơn cứu độ (x Cv 2).
Vậy khi ta không có quà vật chất để tặng nhau, thì ít là ta nở nụ cười, biểu lộ có Chúa ở cùng (x Lc 1, 28), Ngài sẽ ban muôn ơn lành cho đồng loại ta gặp gỡ, như Chúa đã hứa: “Mọi dân thiên hạ sẽ lấy dòng giống ngươi mà cầu phúc cho nhau, bởi vì ngươi vâng nghe Lời Ta” (St 22, 18).

ĐIỀU RĂN 8: Nói đúng, làm đúng, chưa đủ; còn phải nói khéo, cư xử khéo nữa! (x Cl 4, 6).
 Nói đúng, làm đúng mà thiếu khéo, nhiều khi đem lại đổ vỡ. Do đó, muốn cư xử khéo đối với nhau, ta hãy cầu nguyện với Thiên Chúa trước, xin Ngài ban cho ta trái tim của Ngài (x Pl 2, 5), để ta biết nói đúng làm đúng và khéo léo đối với mỗi một người có cá tính khác nhau (x Cl 4, 6).

ĐIỀU RĂN 9: Đoán ý nhau để phục vụ giống Mẹ Maria (Lc 1, 39t; Ga 2, 3).
Tin Mừng ghi nhận hai lần Đức Maria đoán ý muốn người khác để phục vụ:
C Lúc Con Thiên Chúa nhập thể, Mẹ Maria được thiên thần cho biết bà Êlysabeth đã mang thai được sáu tháng, Mẹ biết người chị họ đã cao niên mà còn sinh nở, Mẹ đoán ý người chị cần sự giúp đỡ, Mẹ đã mau mắn lên đường đến phục vụ chị họ  (x Lc 1, 39t).
C Lúc Con Thiên Chúa bắt đầu đi loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su và Mẹ Ma-ri-a cùng được mời đến dự tiệc cưới Ca-na, mọi người đang dùng bữa, bỗng thiếu rượu, Mẹ đoán ý họ cần có rượu ngay, nên Mẹ lên tiếng nói với Đức Giê-su:“Nhà này hết rượu” (Ga 2, 3).
Do đó khi ta đoán ý đồng loại để phục vụ, ta xứng đáng là con Đức Mẹ.
Vậy sống chung với nhau, ai cũng biết đoán ý nhau để phục vụ, thì tốt đẹp và thân thương biết mấy. Nếu ta không biết ý bạn muốn gì, thì ta hãy khiêm tốn hỏi: Bạn có đồng ý tôi làm việc này không? Bạn muốn tôi giúp gì bạn bây giờ? Còn nếu ta sống kiểu “ăn có mời làm có khiến”, thì nơi ta sống rất nặng nề, thà rằng tự ta làm lấy còn nhẹ nhàng thoải mái hơn là phải lên tiếng bảo người này người kia làm.

ĐIỀU RĂN 10: Người cha (mẹ) dù có tắt thở, họ vẫn chưa chết, vì đã để lại con cái giống hệt họ
(Hc 30, 4).
 Thời Cựu Ước người ta quy mọi trách nhiệm về người cha, và đó cũng là dấu chỉ Chúa Giê-su chịu trách nhiệm trước mặt Chúa Cha về việc cứu độ loài người tội lỗi. Thế nên trong gia đình, ai làm chủ, ai có trách nhiệm, ai ảnh hưởng lớn nhất, thì mọi lỗi lầm của gia đình ấy quy chiếu về người có trách nhiệm, dù là ông bà hay cha mẹ, cả anh chị. Chính vì vậy mà khi bà E-và phạm tội, Chúa tra hỏi ông A-đam trước (x St 3). Do đó, ai có trách nhiệm mà biết kẻ thuộc về mình phạm lỗi, lại không sửa dạy, để nó chết trong tội, thì Chúa sẽ đòi nợ máu nơi người có trách nhiệm (Ed 33, 7-9).
Bởi vì, con cháu trong gia đình luôn rập theo khuôn sống của người dưỡng dục nó, nên họ có tắt thở, vẫn chưa chết, họ để lại con cái giống hệt họ (x Hc 30, 4), và tác giả sách Huấn ca còn nói: “Đừng khen ai có phúc trước khi họ lìa đời, vì nhìn con cái họ, người ta sẽ biết rõ” (Hc 11, 28). Chúa Giê-su còn dạy: “Sự khôn ngoan được biện minh nơi con cái mình” (Lc 7, 35).
  



 
C. NHỮNG TIÊU CHUẨN
CHỌN BẠN TRĂM NĂM
Thiết tưởng có chín tiêu chuẩn sau đây:
1- Cùng Tin: Thánh Phao-lô dạy: “Chớ có lứa đôi lệch lạc giữa người tin Chúa và kẻ không tin, vì hòa hợp thế nào được giữa ánh sáng và bóng tối!” (2 Cr 6,14).
2- Tự Lập: Chúa Giê-su nói: “Người nam sẽ bỏ cha mẹ mình mà luyến ái với vợ” (Mt 19, 5). Vậy:
      / Tự lập về mặt kinh tế: Vợ chồng không lệ thuộc vào tiền của bên nội hay bên ngoại. Liệu sao vợ chồng có khả năng tổ chức một gia đình đủ cho nhu cầu tối thiểu.
      / Tự lập về mặt tinh thần: Vợ chồng phải đặt trách nhiệm xây dựng một gia đình hiệp nhất trong ý Chúa, không vì chữ hiếu mà nghiêng ngả bên nội hay bên ngoại.
3- Trẻ Thơ: Thánh Phao-lô nói: “Anh em có bất hoà thì như con nít thôi!” (1Cr 14, 20).
4- Tuổi Đời: Vợ không nên nhiều tuổi hơn chồng, vì sắc đẹp và khả năng sinh lý của vợ chóng tàn hơn chồng.
5- Văn Hóa: Văn hóa của vợ không nên trổi vượt hơn chồng. Vì nếu văn hóa của vợ trổi hơn chồng, người chồng sẽ mặc cảm.
6- Làm Việc: Nhờ cả hai vợ chồng thích làm việc, họ dễ cảm thông lẫn nhau, nhất là tháo vát giải quyết được những khó khăn của gia đình.
7- Khỏe Mạnh: Cả hai vợ chồng cần có sức khoẻ tương đối, vừa để bảo đảm kinh tế gia đình, vừa để bảo đảm sức khoẻ con cái.
8- Vui Tươi: Niềm vui trên khuôn mặt là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Thực vậy, thiên thần nói với Đức Ma-ri-a trong lúc truyền tin: “Vui lên! Hỡi Đầy ơn phúc! Chúa ở cùng Bà” (Lc 1, 28). Pla-ton định nghĩa: “Con người là con vật biết cười!”
 9- Khó Với Mình, Quảng Đại Với Chúa Và Tha Nhân (x 2 Cr 6, 12t). Đó là tu thân: tự bắt mình đi ngược lại bản tính ích kỷ.
Trong thực tế, không ai tìm được một người đủ chín tiêu chuẩn trên, nhưng tưởng đó là một chỉ tiêu cần thiết đặt ra để các bạn chọn lựa. Một người bạn chọn, càng đạt được nhiều tiêu chuẩn trên, thì bạn càng an tâm hơn. Nếu tiêu chuẩn quá ít thì phải nhắm trứơc sự chịu đựng của mình.
/ TÓM TẮT:
           Cùng tin, tự lập, trẻ thơ.
      Tuổi đời, văn hóa:thiếp nhờ chàng hơn
Cùng làm, mạnh khỏe, vui tươi.
Khó ta, quảng đại tha nhân. Cưới liền!
Lời kết
                     Lạy Chúa là Chúa Tể càn khôn, xin cho những người trông đợi Chúa đừng vì con mà phải thẹn thùng. Lạy Chúa Trời nhà Israel, xin đừng để những ai tìm kiếm Ngài lại vì con mà mang tủi hổ! (Tv 69/68, 7)
Ý NGHĨA HÌNH BÌA
NGƯỜI SAMARI NHÂN HẬU
(Lc 10, 29-37)
 - Ông tư tế và ông Lê-vi mới dâng lễ ở Đền thờ ra về, gặp thấy nạn nhân dọc đường, cả hai ông liền bỏ đi, để tránh liên lụy!
 - Đuôi áo còn ở phía ông Samari, chứng tỏ họ đã từ đó mà bỏ đi.
 - Người ta thường diễn tả kẻ ác bằng hình ảnh ông già, ông già này không dừng lại chăm sóc nạn nhân, lại còn ngoái cổ khinh dể ông Samari chăm sóc nạn nhân là ngu đần!
- Ông Samari là hình aûnh Chúa Giê-su (x Ga 8, 48) dừng chân chăm sóc nạn nhân, người bị bọn cướp (satan) trấn lột và đánh để nửa sống (xác còn sống), nửa chết (linh hồn thuộc về satan).
- Ông Samari đưa nạn nhân vào quán trọ: Chúa Giê-su dìu ta vào Hội Thánh. Ông Samari nhờ chủ quán chăm sóc nạn nhân: Chúa nhờ chúng ta chăm sóc đồng loại.
- Ông Samari trả chủ quán hai quan tiền: ai chăm sóc đồng loại trong Hội Thánh, được Chúa thưởng cả hồn lẫn xác, Chúa thưởng đời này lẫn đời sau. Ông Samari còn hứa với chủ quán: khi ông trở lại, ông sẽ trả công đủ cho chủ quán: Chúa Giê-su về Trời, đến ngày cánh chung Ngài trở lại, Ngài sẽ thưởng cả hồn xác được sống lại vinh quang cho ai đã chăm sóc đồng loại.
-            Vạch cắt ngang bức tranh nói lên hai mặt đối lập: Ở lại chăm sóc đồng loại thì giống Chúa Giê-su (hình lớn đập vào mắt mọi người); bỏ ra đi không phục vụ đồng loại, thì vô giá trị, đời họ đi vào hư vô quên lãng (hình hai ông nhỏ dần).

 Vậy nếu ta chăm sóc ai, mà không có ý định đưa họ vào Hội Thánh, không có ý làm cho người ta thuộc về Chúa Ki-tô, thì không phải là đức ái. Do đó, ông tư tế và ông Lê-vi, nếu dừng lại chăm sóc nạn nhân, các ông chỉ đạt nhân bản, không phải là đức ái! Vì các ông đại diện cho giới đầu mục Do Thái quyết liệt chống đối Chúa Giê-su và không muốn cho ai gia nhập Hội Thánh (x Ga 7, 45-52).

LỜI CHÂU NGỌC

1/ Triết gia Kierkegaard:
-       Thiên Chúa chúc phúc cho con người, không phải chỉ khi nào nó gặp được Ngài, nhưng Thiên Chúa chúc phúc ngay lúc nó cất bước đi tìm Ngài.
-       Tin Mừng của Chúa chỉ nên trình bày cho người ngoại lệ.
-       Đón nhận Tin Mừng của Chúa mà không làm đảo lộn cuộc sống, thì chỉ là loại Biệt phái bị Chúa chúc dữ (x Mt 23).
-       Điều quan trọng của cuộc đời là biết học làm một Ki-tô hữu. Nếu quên ý nghĩa tôn giáo là quên ý nghĩa cuộc sống.
-       Mọi vấn đề ăn thua với cuộc sống, hệ tại chỗ đam mê. Suy nghĩ về vấn đề gì mà không đam mê thì không suy nghĩ gì cả.
2/ Nhà thần học P. Nouet:
 Sống là để tìm Chúa, chết là để gặp Ngài, và đời đời được trong tay phải của Ngài.
3/ Đức Hồng Y Phanxico Nguyễn Văn Thuận:
      Người Ki-tô hữu có tất cả các phương tiện cứu độ, mà bao nhiêu năm không biến đổi nếp sống vươn lên, đó là một trọng tội.
4/ Thánh Isaac Viện Phụ Đan Viện Sao Mai:
     Có hai điều chỉ thích hợp với một mình Thiên Chúa, đó là vinh dự được nghe thú tội và quyền tha thứ. Chúng ta phải thú tội với Người và trông đợi Người tha thứ cho chúng ta. Nhưng Chúa Ki-tô chỉ muốn tha tội cho chúng ta qua Hội Thánh Ngài thiết lập.
5/ Thánh Tô-ma Tiến sĩ:
-        Mỗi vấn đề phải được giải quyết trong lãnh vực của nó. Ví dụ: Vấn đề chữa bệnh phải giải quyết trong lãnh vực y học; vấn đề tìm hạnh phúc vĩnh cửu, phải được giải quyết trong lãnh vực đạo Công Giáo.
-        Người trí thức có ba việc phải làm: Học điều mình tin; hiểu điều mình yêu; và mến việc mình làm.
-        Thà rằng nghĩ tốt cho người xấu, chứ đừng nghĩ xấu cho người tốt, vì cách thứ nhất không hại ai.
-        Một kiến thức bất toàn về mầu nhiệm cao siêu, còn hơn sự ngu dốt hoàn toàn.
6/ Thánh Augustin:
-        Hiệp nhất trong những điều cần thiết, tự do trong những gì hồ nghi, và bác ái trong mọi trường hợp.
-        Bạn chạy khỏe lắm đó, nhưng trật đường mất rồi!
-        Bạn đừng sợ cách chết dữ, hãy sợ cách sống dữ, vì nếu sống dữ, ắt chết dữ, dù cách chết lành; còn nếu sống lành, ắt chết lành, dù cách chết dữ!
-        Làm Giám mục cho anh em, tôi rất lo sợ; làm tín hữu với anh em, tôi rất an tâm. Vì Giám mục chỉ là chức vụ, tín hữu mới là ân phúc. Giám mục là một danh hiệu nguy hiểm, tín hữu là một danh hiệu sinh ơn cứu độ.
-        Chúa tạo dựng chúng con cho Chúa, và lòng chúng con những khắc khoải bao lâu chưa được nghỉ yên trong Chúa.
-       Ai càng yêu mến Hội Thánh Chúa Kitô, càng có Chúa Thánh Thần. (Trích Sắc Lệnh Đào Tạo Linh Mục số 9 của Công Đồng Vat.II) 
7/ Thánh Giê-rô-ni-mô:
     Ai không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Ki-tô.
8/ Ông Gandhi, thủ tướng Ấn Độ nhờ say mê đọc Thánh Kinh mà ông làm cho dân Ấn thoát nô lệ Anh Quốc, không hao tốn súng đạn, tiền của, xương máu.
Ông nói:    Đời chỉ thành công bao lâu dám thí nghiệm sống chân lý từ Thánh Kinh.
9/ Đức Khổng Tử:
     Biết mà học không bằng ham mà học; ham mà học không bằng yêu mà học.
10/ Ông Maréchal Foch:
     Muốn ít điều trong một thời điểm, mà muốn với bất cứ giá nào, đó là bí quyết thành công.
11/ Thánh Phanxicô Xaviê:
     Ông kia bà nọ nên thánh, sao tôi không nên thánh được ?!
12/ Thánh I-rê-nê;
     Vinh quang Thiên Chúa là cộnglại những người được Chúa Ki-tô Giê-su cứu độ.
13/ Giáo sư Alfred Adler:
     Kẻ nào không quan tâm tới người khác, chẳng những nó gặp nhiều khó khăn trên đời, mà còn là kẻ gây tác hại cho xã hội.
14/ Linh mục Carlyle:
     Muốn biết lòng nhân ái của ai, chỉ cần xem cách người đó đối xử với các tôi tớ.
15/ Nhà tâm lý học Ive
Phần lớn nỗi thống khổ của người nghèo, là họ nhìn thấy cách dùng tiền của phung phí, vô ý thức của người giàu.
16/ Đức Giáo hoàng Gioan Phao-lô II:
     Một nỗi nguy hiểm thường xảy ra nơi các giáo sĩ, là họ quá hăng say trong những công việc của Chúa, mà quên mất Chúa là Chủ công việc.
17/ Đức Giáo Hoàng Gioan 23:
     Dạy giáo lý nhiều không bằng đời sống chúng ta đủ sắc nét, nếu chúng ta cư xử như một Ki-tô hữu chính danh, thế giới không còn người ngoại giáo nữa.
18/ Mục sư Martin Luther King:
     Cầu mong và phó thác nơi Chúa làm mọi sự, còn mình chẳng chịu làm gì cả, đó là đại mê tín.
19/ Ngạn ngữ Đức:
-        Ngã vào tội là người, nán lại trong tội là quỷ.
-        Nếu Chúa không khoan dung, thì Thiên Đàng trống rỗng.
20/ Ngạn ngữ Pháp:                               Hôn nhân gồm rất nhiều chuyện, chứ không phải chỉ có bốn chân trên giường.
21/ Ông Henri Van Dyke, một tâm lý gia:
     Thời gian quá lâu cho người chờ; quá ngắn cho người vui; quá dài cho người buồn; và vĩnh cửu cho người biết yêu như Thiên Chúa.
22/ Đức Hồng Y Newmann:
- Tôi đọc Kinh Thánh để biết tôi phải làm gì, tôi đọc báo để biết người ta đang làm gì ?
-  Truyền đạo là “trái tim nói với trái tim” (Cor ad cor loquitur).
23/ Nhà khoa học Galilé:
     Kinh Thánh không dạy con người biết đất trời xoay vần thế nào, mà Kinh Thánh dạy con người phải biết vần xoay thế nào để từ đất về Trời.
24/ Triết gia Gioan Scotus:
     Đích điểm ra đi là khởi điểm trở về, con người lạc mất Thiên Chúa là hình khổ bậc nhất.

25/ Nhà khoa học Archimetre:
     Cho tôi một đòn bẩy và một điểm tựa ngoài trái đất, tôi có thể bẩy trái đất lăn đi theo ý muốn.
Dựa vào câu nói này người công giáo có thể suy ra Đòn bẩy đó là lời cầu nguyện, điểm tựa đó là Chúa Giê-su.
26/ Ông Tertuliano:
      Máu các Thánh Tử Đạo là hạt giống phát sinh các Ki-tô hữu.
27/ Cha Gioan Maria Vianey:
-        Thế giới sẽ thuộc về tay ai biết yêu mến.
-        Linh mục thánh thiện, giáo dân đạo đức; Linh mục đạo đức, giáo dân tầm thường; Linh mục tầm thường, giáo dân ra quỷ!
 Vậy Giám mục thánh thiện, Linh mục đạo đức; Giám mục đạo đức, Linh mục tầm thường; Giám mục tầm thường, Linh mục ra quỷ; Linh mục ra quỷ, Hội Thánh sụp đổ!
28/ Phaolomoi.net:
Tôi bảo không có giờ làm việc này, chỉ có nghĩa là thời giờ tôi dành cho việc mà tôi cho là quan trọng. Bởi vì quan trọng việc gì thì có giờ cho việc đó (x Lc 14,15-20).
29/ Triết gia Socrate:
Cả cuộc đời ông chỉ rao giảng một chân lý: “Hãy tự biết mình”.
30/ Ông Pascal là một nhà Toán học, Vật lý, Triết gia.
Ông nói:
- Vũ trụ có khả năng đè bẹp tôi, nhưng tôi vẫn hơn cả vũ trụ, vì vũ trụ không biết gì về chiến thắng của nó, còn tôi, tôi biết về sự chết của mình.
-  Tâm khám phá ra Thiên Chúa chứ không phải lý trí, tâm lãnh hội được chân lý Đức Tin, chứ không phải do suy luận việc làm.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét