^ Scroll to Top

Giáo Lý Công Giáo Phần thứ nhất Tuyên Xưng Đức Tin


http://xuanha.net
PHẦN THỨ NHẤT
TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

(The Profession of Faith)

 

 
Chương Một

CHÚNG TÔI TIN
(We Believe)


Đoạn I

CON NGƯỜI CÓ KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA
(The Human Capacity for God)

3. Con người có thể nhận biết Thiên Chúa không?
- Có, vì "Khát vọng biết Thiên Chúa được ghi sâu trong lòng con người.
(vì Thiên Chúa tạo dựng con người cho chính Chúa, và luôn thu hút con người theo Chúa, con người chỉ gặp hạnh phúc nơi Chúa" (27).
"Suốt dòng lịch sử, xưa nay con người đã bày tỏ cuộc tìm kiếm Thiên Chúa với biết bao cách thế qua niềm tin, cách sống đạo (cầu nguyện, dâng lễ, thờ phượng, suy niệm..) (28)

4. Con người có thể nhận biết Thiên Chúa qua những đường lối nào?
- Qua vũ trụ, qua loài người, và qua Giáo hội Công giáo.
(1. Qua vũ trụ: "Chuyển động đều hòa, trật tự và vẻ đẹp của vũ trụ, người ta có thể nhận ra Thiên Chúa như là nguồn gốc và là cùng đích (origin and the end) của vũ trụ" (32)
  2. Qua loài người: Với tâm hồn biết đón nhận sự thật và sự thiện (beauty), cảm biết điều lành, có tự do và tiếng lương tâm, niềm khát vọng cõi vô biên và hạnh phúc, con người tự hỏi về hiện hữu (existence) của Thiên Chúa.
Qua tất cả những điều trên, con người sẽ nhận ra chứng cớ về hồn thiêng của họ. Hồn có sự sống đời đời mà con người mang trong mình, chứ không phải chỉ có xác chất mà thôi. (33) "Chắc chắn có thể nhận biết Thiên Chúa là nguyên nhân (first principle) và cùng đích (last end) mọi loài, qua ánh sáng tự nhiên của lý trí, khởi đầu từ các tạo vật" (36).
  3. Qua Giáo hội Công Giáo: Giáo hội có thể trình bày Thiên Chúa cho mọi người") (39).


Đoạn 2

THIÊN CHÚA ĐẾN GẶP CON NGƯỜI
(God's Initiative and Encounter with us)

5. Thiên Chúa tới gặp con người qua những cách nào?
  - Qua việc tạo dựng, qua giao ước với ông Noe, qua việc tuyển chọn ông Abraham, qua việc chọn dân Israel làm dân riêng, qua Ðức Kitô, qua Thánh truyền.
(1. Qua việc tạo dựng: "Thiên Chúa tạo dựng và gìn giữ vạn vật nhờ Chúa Kitô, và Chúa để lại những chứng cớ nơi các tạo vật để loài người có thể nhận ra Chúa" (54).
  2. Qua Giao ước với ông Noe: "Giao ước này bày tỏ nhiệm cục thần linh (the divine economy) cứu rỗi muôn dân" (56).
  3. Qua việc tuyển chọn ông Abraham tổ phụ dân riêng: "Để qui tụ mọi người đang rải rắc khắp nơi, Thiên Chúa đã chọn Abraham" (59).
  4. Qua việc chọn Israel làm dân riêng: "Sau các tổ phụ, Thiên Chúa đã lập Israel làm dân riêng Ngài khi cứu họ thoát ách nô lệ Aicập" (62).
  5. Qua Đức Kitô, đấng trung gian giữa Thiên Chúa Cha và loài người: "Sau bao lần Chúa Cha đã nói qua các tiên tri, những ngày sau cùng, Chúa Cha đã nói qua Con Ngài là Đức Giêsu Kitô" (65).
  6. Qua Thánh truyền (từ thời các Tông đồ tới các kế vị sau này) (74-100): "Chúa đã truyền lệnh cho các Tông đồ loan Tin mừng Phúc âm cho mọi người (80).
 "Giáo hội có nhiệm vụ chính thức giải nghĩa (authentic interpretention)  Lời Thiên Chúa (The Word of God) được trao phó cho Giáo hội có quyền Giáo huấn" (85).

6. Thiên Chúa gặp gỡ con người qua Thánh kinh thế nào?
- "Thiên Chúa nhân từ nói với loài người bằng ngôn ngữ của loài người là Thánh Kinh, được Thánh thần linh ứng, nhờ thánh ký viết ra.
(Qua Thánh Kinh, Chúa nói lời duy nhất là Ngôi Lời" (101, 102). "Thánh kinh được ghi chép do Chúa Thánh Thần linh ứng để các Thánh ký viết ra những điều lợi ích cho phần rỗi đời đời của ta, cách không sai lầm" (105).

7. Thánh kinh quan trọng trong đời sống Giáo hội như thế nào?
- "Lời Chúa là điểm tựa và sức mạnh của Giáo hội, là niềm tin và lương thực tâm hồn cho con cái Giáo hội.
(là nguồn mạch tinh tuyền đời sống thiêng liêng của họ...Giáo hội khuyến khích mọi tín hữu đọc Thánh Kinh mỗi ngày để hiểu biết khoa học tuyệt vời về Đức Kitô (131).



Đoạn III

CON NGƯỜI ĐÁP LẠI MỜI GỌI CỦA THIÊN CHÚA
(Meeting of God and Man)

8. Thiên Chúa gọi con người qua những cách nào và con người đáp lại lời kêu gọi của Thiên Chúa khi nào?
- Thiên Chúa đã kêu gọi con người qua khát vọng từ thâm tâm mình, qua lịch sử các tôn Giáo, qua vũ trụ thiên nhiên, qua chính con người, qua mạc khải, và qua Giáo hội của Chúa.
Con người đáp lại lời kêu gọi của Thiên Chúa khi con người thưa: Tôi tin, chúng tôi tin (142).
( Khi tin, trí tuệ và ý chí của con người hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa (143).

9. Vâng phục Thiên Chúa trong đức tin nghĩa là gì?
- Là lắng nghe và tự nguyện vâng lời Chúa.
(vì chính Ngài là Đấng Chân thật bảo đảm chân lý (truth) của Ngài (144). Trong Thánh kinh có Abraham là mẫu sống vâng phục (145-147), và Đức Trinh nữ Maria thực hiện hoàn hảo nhất sự vâng phục đó (148-149).

10. Người tín hữu tin ai và tin có lợi gì?
- Người tín hữu cùng với Giáo hội tin Thiên Chúa duy nhất là Chúa Cha, Chúa Con (Đức Giêsu Kitô), và Chúa Thánh Linh (150- 152).
(Nhờ đức tin, tín hữu liên kết cá nhân mình với Chúa, tự tình vâng phục mọi chân lý mạc khải (revealed), hoàn toàn tín nhiệm nơi Chúa, tuyệt đối tin vào lời Ngài (150).

11. Đức tin vào Chúa có những đặc tính nào?
- Đức tin do Chúa Thánh linh ban có đặc tính: đánh động bên trong, là một đức siêu nhiên, như khi Phêrô được ơn này để tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (Mt 16,17) (153).
(- Đức tin là hành động của con người, con người tin tưởng vào Chúa, gắn bó với chân lý Ngài mạc khải (tỏ ra), trí khôn và ý muốn cộng tác với ơn Chúa (154-158).

12. Đức tin (faith) có đối ngược lý trí hiểu biết (understanding) của con người không?
- Không. Ta tin Chúa vì Chúa chân thật, không lừa dối ai, không bị ai lừa. Nhưng Chúa cũng muốn ban những lý do để ta dễ tin.
 (Những chứng cớ như những phép lạ, những lời tiên tri, sự Thánh thiện, Giáo hội vững bền (156).

13. Đức tin có đối ngược khoa học (science) không?
- Không. Đức tin vượt lý trí, nhưng không bất đồng với lý trí, vì Chúa vừa mạc khải mầu nhiệm vừa ban cho tâm trí con người ánh sáng lý trí. Những nghiên cứu khoa học không mâu thuẩn (conflict) với đức tin (159).

14. Đức tin có đối ngược tự do không?
- Không. Đức tin đáp lời kêu gọi của Thiên Chúa phải là đức tin tự do, tự ý. Không ai bị ép buộc đón nhận đức tin cách miễn cưỡng.
(Chúa Kitô đã mời gọi con người tin và trở về, nhưng Người không cưỡng ép ai phải tin Người (160).

15. Đức tin có cần cho phần rỗi linh hồn không?
- Để được ơn cứu rỗi, rất cần đức tin nơi Chúa Kitô và Chúa Cha, vì không ai được nên công chính ngoài đức tin, và không ai được sống đời đời nếu không sống kiên trì trong đức tin (161-165).

16. Tại sao nói: "Chúng tôi tin"?
- Đức tin không là hành vi đơn lẻ, không ai có thể tin một mình, cũng như không ai có thể sống một mình.
(Tôi không thể tin nếu không được đức tin của anh em nâng đỡ. Nhờ tin, tôi góp phần nâng đỡ đức tin của anh em tôi (166).
Chính Giáo hội tin, Giáo hội cưu mang, nuôi dưỡng và nâng đỡ đức tin tôi. Ta đón nhận đức tin qua Giáo hội (Bí tích Rửa tội), Giáo hội là Mẹ ta (168-171). Đức tin của Giáo hội là đức tin duy nhất, tin vào một Thiên Chúa mọi nơi mọi lúc (172-175)

17. Giáo hội có mấy kinh Tin kính?
- Giáo hội có nhiều kinh Tin kính. Ban đầu Giáo hội có kinh Tin kính do 12 Tông đồ truyền lại, nhưng qua thời gian, Giáo hội có thêm những kinh Tin kính để đáp ứng nhu cầu giữ vững niềm tin.
(do đó có thêm  kinh Tin kính Thánh Atanasiô, công đồng Nicea-Constantinô, Toledô, Latran, Lyon, Trentô (185-197).




CHƯƠNG HAI

TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN KITÔ GIÁO
(The Profession of Christian Faith)

Đoạn I

TÔI TIN KÍNH THIÊN CHÚA CHA
(I believe in God The Father)

TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI
(199-230)
18. Kinh Tin kính trình bày điều gì đầu tiên?
- Trình bày điều: Tôi tin một Thiên Chúa.
(Đây là điều nền tảng đức tin, cả kinh tin kính trình bày Thiên Chúa, nếu có trình bày con người và vũ trụ, vì chúng có liên quan với Thiên Chúa (199).
Lời tuyên xưng Thiên Chúa duy nhất bắt nguồn từ Cựu ước (200). Chính Thiên Chúa đã mạc khải chân lý này cho dân Israel, Ngài dạy họ yêu mến Ngài hết lòng hết sức (201).
Chúa Giêsu cũng dạy rằng : Có một Thiên Chúa. Đó là tín điều: Một Thiên Chúa Ba ngôi là Cha và Con và Thánh Thần (202).

19. Thánh Danh Thiên Chúa tỏ cho ông Moise là gì?
- "Ta là Đấng Hằng hữu" (Xh 3, 13-15) (203-206)

20. Ngoài Danh Hằng hữu, Danh Chúa còn là gì nữa?
- Là Thiên Chúa trung tín (207), Thiên Chúa Thánh thiện (208), Thiên Chúa dịu hiền, Thiên Chúa Thương xót (210).
(Chỉ có mình Thiên Chúa là hằng hữu (211-213).
Thiên Chúa là chân lý (215-217).
Thiên Chúa là Tình yêu, tình yêu vô vị lợi; vì tình yêu, Thiên Chúa luôn cứu vớt, tha thứ những bất trung lầm lỗi. Tình yêu Cha - con, yêu đến ban Con Một Ngài, tình yêu vĩnh cửu (218-221).

21. Tin nơi Thiên Chúa có lợi gì cho ta?
- Nhờ tin, ta biết Chúa cao cả, uy linh. Biết ta được dựng nên giống Ngài, ta biết hưởng dùng mọi tạo vật tốt đẹp, ta biết tín nhiệm nơi Ngài trong thuận cảnh và nghịch cảnh.
(Lời Thánh nữ Têrêxa Hài đồng:" Mong chẳng gì làm bạn lo, bạn sợ, tất cả sẽ qua, nhưng Chúa không thay đổi. Có Chúa bạn không thiếu gì, mình Chúa là tất cả" (222-227).

* CHÚA CHA (The Father) (232- 267)
22. Người tín hữu tiếp nhận mầu nhiệm nào trước tiên trong đời sống kitô hữu?
 - Mầu nhiệm Ðức Chúa Trời Ba ngôi.
(Người tín hữu trước tiên được rửa tội nhân danh Thiên Chúa Ba ngôi là Cha...Họ tuyên xưng:"Tôi tin Thiên Chúa Ba ngôi" (232).

23. Mầu nhiệm Chúa Ba ngôi quan trọng thế nào trong đời sống tín hữu?
- Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba ngôi là mầu nhiệm trung tâm của đời sống kitô hữu.
(là nguồn gốc mọi mầu nhiệm đức tin, là ánh sáng soi dẫn các mầu nhiệm, là Giáo huấn nền tảng và cốt yếu trong trật tự đức tin (234).

24. Loài người có thể hiểu được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba ngôi không?
- Không thể hiểu nổi, vì vượt trí khôn loài người.
(nếu không có ơn mạc khải do Chúa Giêsu Kitô tỏ ra, dù Thiên Chúa có để lại dấu vết nơi công trình sáng tạo trời đất. Dù vậy, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi vượt mọi trí khôn thụ tạo (237).

25. Khi trình bày Thiên Chúa là Cha, điều này có ý nghĩa gì?
- Cha, nói lên Đấng là nguồn gốc thứ nhất của muôn loài.
(Đấng có quyền phép siêu việt, Ngài tốt lành, yêu thương con cái. Ngài có tình Cha và tình Mẹ (tình Cha-Mẹ). Ngài không là nam là nữ. Ngài vượt trên phái tính (sex), Ngài là Thiên Chúa (239).
- Đối với Chúa Kitô, Cha là Đấng có tương quan với Con (Cha-Con) (Mt 11, 27)(240).
- Đối với các tông đồ, Chúa Giêsu luôn ở bên cạnh Thiên Chúa Cha, và là hình ảnh của Cha (241).
- Đối với Giáo hội: Chúa Con đồng bản tính với Chúa Cha (242).

26. Thiên Chúa Ngôi Ba là Chúa Thánh Thần được ban cho Giáo hội khi nào?
- Trước ngày Phục sinh, chính Chúa Kitô đã loan báo về Thiên Chúa Ngôi Ba là Chúa Thánh Linh, Đấng sẽ đến với Giáo hội (243-244).
(Giáo hội cũng tuyên xưng Chúa Thánh linh qua các công đồng là Đấng được tôn thờ cùng với Thiên Chúa Cha và Thiên Chúa Con (245-246).

27. Giáo hội tôn trọng Tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi như thế nào?
- Giáo hội tôn trọng tín điều này khi cử hành Bí tích Rửa tội, trong các lời rao giảng, trong các Giáo huấn và kinh nguyện (249-250).

28. Ba Ngôi là mấy Thiên Chúa ?
- Ba ngôi chỉ là một Thiên Chúa duy nhất, cùng bản tính (253).
 (Nhưng Ba ngôi thực sự phân biệt nhau (254): Cha không là Con, Con không là Cha, Thánh Linh không là Cha, Con...Cha sinh, Con được sinh, Thánh Linh phát xuất từ Cha và Con.  Ba Ngôi liên kết với nhau (255-256).

29. Công việc của Ba Ngôi đối với loài người thế nào?
- Ba ngôi ban vinh quang và cuộc sống của Ngài nơi loài người, nhất là nơi Giáo hội Công Giáo (257-259).
(- Nhiệm cục thần linh (the divine economy) là công trình của cả Ba Ngôi, vừa chung vừa riêng. Thiên Chúa là Cha, mọi tạo vật thuộc về Ngài. Thiên Chúa là Con, mọi tạo vật hiện hữu vì Ngài. Thiên Chúa là Thánh Thần, mọi tạo vật hiện hữu nơi Ngài.
Mục đích sau cùng của nhiệm cục thần linh là đưa tạo vật vào hiệp nhất hoàn toàn với Thiên Chúa Ba ngôi ngay từ đời này "Ai yêu mến Ta, nó sẽ giữ lời Ta, Cha ta sẽ yêu mến nó, chúng ta sẽ đến và ở với nó" (Ga 14,23).

* ĐẤNG TOÀN NĂNG (The Almighty) (268- 278)
30. Thiên Chúa Toàn năng nghĩa là gì?
Là Ngài dựng nên mọi loài, điều hành mọi sự, và làm được mọi điều Ngài muốn.
(- Toàn năng là điều quan trọng và là tổng hợp các ưu phẩm của Thiên Chúa.
Toàn năng nhưng đầy tình thương, vì Chúa là Cha chúng ta (268-269).
Ngài săn sóc mọi nhu cầu của chúng ta, vì chúng ta là nghĩa tử của Ngài (270).
Ngài tha tội lỗi chúng ta (270).
Nơi Chúa, toàn năng và yếu tính, ý muốn và trí tuệ, khôn ngoan và công bình chỉ là MỘT (271).

31. Thiên Chúa Toàn năng làm gì cũng được, sao lại để sự dữ xảy ra cho loài người?
(Đôi khi như Chúa vắng mặt (seem to be absent) và không thể ngăn chặn sự dữ (incapable of stopping evil), Ta không thể hiểu được chương trình của Chúa Quan phòng.
(Chúa Kitô đã chết và phục sinh, nên Ngài đã thắng sự dữ. Khi Chúa bị đóng đinh là Ngài tỏ ra quyền năng thượng trí chứ không phải là thua cuộc (1 Cr 1, 24-25) (272).

32. Người tín hữu làm gì để suy tôn Thiên Chúa Toàn năng?
- Phải nhờ đức tin mới đi nổi con đường Thiên Chúa Toàn năng.
 (Đức tin thấy vinh dự trong yếu đuối và kéo được quyền năng Thiên Chúa. Đức Maria là mẫu gương cao vời của đức tin "Không gì là không thể đối với Thiên Chúa" (Lc 1,37) và "Đấng Toàn năng đã làm cho tôi những điều trọng đại" (Lc 1, 49).
33. Điều gì giúp cho đức tin và niềm hy vọng của tín hữu mạnh mẽ hơn?
- Khi tin chắc vào Thiên Chúa  Toàn Năng, vì lời Kinh Thánh viết:"Đối với Thiên Chúa, Người làm được mọi sự" (274).

* ĐẤNG TẠO THÀNH (The Creator) (279- 324)
34. Các tôn giáo nói sao về Thiên Chúa và vũ trụ?
-           1. Thuyết Phiếm thần coi vạn vật là Thiên Chúa .
            2. Thuyết Nhị nguyên coi vạn vật sinh từ Thiện và Ác, Sáng và Tối .
            3. Số khác chủ trương Thiên Chúa dựng nên vũ trụ một lần rồi bỏ mặc.
            4. Thuyết Duy vật chủ trương không có Chúa nào cả  (285).

35. Việc Thiên Chúa Sáng tạo có ý nghĩa gì trong công cuộc cứu rỗi?
- Sáng tạo là nền tảng mọi kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Đức Kitô làm sáng tỏ mầu nhiệm sáng tạo (280).

36. Giáo lý về việc Thiên Chúa tạo dựng có ý nghĩa gì với đời sống con người và đời sống tín hữu?
- Giáo lý này có tầm quan trọng lớn lao liên hệ tới nền tảng đời sống con người và đời sống tín hữu.
(- Làm sáng tỏ các vấn nạn: Con người từ đâu tới? Con người đi về đâu? Vạn vật từ đâu tới? Vạn vật đi về đâu? Sự dữ bởi đâu mà ra? Ai chịu trắch nhiệm về sự dữ? Có cuộc giải thoát khỏi sự dữ không (284)
- Chính các nghiên cứu khoa học về vũ trụ minh chứng Thiên Chúa tạo dựng (283).
37. Lý trí con người có thể giải đáp vấn đề nguồn gốc vũ trụ và con người không?
- Chắc chắn có thể. Qua công trình tạo dựng vũ trụ, người ta có thể dùng lý trí nhận biết Thiên Chúa Tạo dựng, dù đôi khi sự nhận biết này trở nên mù mờ lệch lạc vì những sai lầm. Bởi vậy đức tin soi sáng để nhận biết của ta được thêm chắc chắn.
- Người ta cũng có thể nhờ đức tin soi sáng cho chân lý Thiên Chúa Tạo dựng cách rõ ràng (Dt 11, 3) (286).
38. Chân lý về Thiên Chúa Tạo dựng trời đất có quan trọng không?
- Rất quan trọng cho đời sống con người. Thiên Chúa nhân từ tỏ cho họ chân lý này để họ được cứu độ. Chúa tỏ ra qua dân Israel, các tổ phụ, các biến cố (287), qua tiên tri, Thánh vịnh, kinh nguyện, phụng vụ, những suy nghĩ khôn ngoan của dân riêng Chúa trong 3 chương đầu Sách Sáng Thế (288).
39. Tạo dựng là công trình của Ngôi nào trong Ba ngôi Thiên Chúa ?
- Dù công trình tạo dựng được qui cho Chúa Cha, nhưng chúng ta tin Ba Ngôi là một, là nguyên lý duy nhất của cuộc tạo dựng (290-292).
40. Thiên Chúa tạo dựng thế giới có mục đích gì?
- Thánh kinh và Thánh truyền luôn dạy chân lý nền tảng này: Thế giới được tạo dựng, do tình yêu và lòng nhân lành của Chúa, để vinh quang Thiên Chúa được biểu lộ ra bên ngoài (293).
41. Có lý do nào buộc Chúa phải dựng nên thế giới không?
-  Chúa dựng nên thế giới do ý muốn tự do của Ngài, dựng nên theo thượng trí Ngài, không phải tình cờ hay bị cưỡng ép (294).
42. Chúa dùng vật liệu gì để dựng nên thế giới?
-  Ngài không cần vật liệu gì sẵn có, Ngài dựng nên muôn loài từ trống không (296), Thánh kinh đã nói về việc dựng nên từ hư không này (297).
- Trong đời sống thiêng liêng, Thánh Linh Chúa cũng tạo nên trong tâm hồn tội nhân tấm lòng trong sạch, ban ánh sáng, ban đức tin cho ai chưa có (298).
- Thiên Chúa dựng nên thế giới trong trật tự và tốt lành (299).
- Thiên Chúa cao cả hơn vạn vật (300).
- Thiên Chúa bảo trì và nâng đỡ tạo vật, Ngài giúp tạo vật hoạt động và kết thúc (301).
43. Thiên Chúa lưu tâm săn sóc các tạo vật Ngài đã dựng nên thế nào?
- Ngài đưa cuộc tạo dựng tới chỗ hoàn hảo (302) "Lòng người có nhiều mưu tính, nhưng chỉ có kế hoạch của Chúa sẽ được thực hiện" (Châm ngôn 19, 21). Thánh kinh đã minh chứng điều này (303-304).
- Chúa Giêsu đòi ta tín thác hoàn toàn cho Chúa quan phòng, chỉ phải lo tìm kiếm Nước Chúa trước (305).
- Trong việc Chúa quan phòng, Chúa cũng dùng các nguyên nhân trợ giúp Ngài để thi hành kế hoạch của Ngài (307): Trước hết là loài người, Ngài cho làm chủ trái đất (307). Loài người không thể đạt đích tối hậu, nếu không có Chúa trợ giúp (308).
44. Tại sao Chúa dựng nên thế giới trật tự và tốt lành mà lại có điều dữ tồn tại trong đó? (309).
- Với quyền năng vô biên, Thiên Chúa có thể luôn luôn tạo dựng những gì hoàn hảo, nhưng với sự khôn ngoan và nhân lành vô cùng, Chúa tự ý muốn tạo dựng thế giới trong tình trạng hướng về hoàn hảo cuối cùng. Trong hành trình này: một số hiện một số mất, một số hoàn hảo một số kém hoàn hảo, do đó, có xây dựng có phá hoại, có tốt thể lý có xấu thể lý, có thiên thần và con người (thông minh và tự do) phải hướng về (310).
Trong thực  tế hai loài này (thiên thần và loài người) đã lạc đường (phạm tội), do đó đã có sự dữ luân lý (ý muốn tội lỗi) lọt vào thế giới. Sự dữ này nặng hơn sự dữ thể lý (bệnh tật, chết người). Thiên Chúa không là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp của sự dữ luân lý, tuy nhiên Ngài cho phép xảy ra để tôn trọng tự do của tạo vật, và thật là lạ lùng, Ngài luôn biết cách rút điều tốt ra từ điều xấu (311).
Ngài rút ra điều tốt ngay cả từ điều xấu luân lý do tạo vật gây ra (St 45,8;,50,20). Từ tội lỗi Ngài ban ơn Thánh. Nhưng không vì thế mà điều xấu trở thành điều tốt (312). Theo Thánh Phaolô: Người ta có thể lợi dụng tất cả để trở thành điều tốt cho những ai yêu mến Chúa (Rm 8,28) (313).
- Thiên Chúa là chủ của thế giới và của lịch sử. Không ai biết được đường lối quan phòng của Ngài, chỉ vào ngày nhìn thấy Ngài "diện đối diện" ta mới được rõ kế hoạch của Ngài (314).

* TRỜI VÀ ĐẤT (Heaven and earth) (325-354)
45. Trời và đất chỉ những gì?
- Trời là bầu trời, cũng là nơi Thiên Chúa ngự. Đất chỉ thế giới, loài người. Công đồng Latran 4 dạy: Từ đầu tiên, từ hư không, Thiên Chúa đã dựng nên thế giới và muôn loài, trong đó có thiên thần vô xác và loài người gồm hồn và xác (327).
46. Thiên thần là ai?
- Là những tôi tớ, sứ giả của Thiên Chúa, đang được chiêm ngắm dung nhan Chúa,
- Là tạo vật thiêng liêng, riêng biệt, không chết, hoàn hảo vượt mọi tạo vật hữu hình (328-330).
- Chúa Kitô là trung tâm thế giới thiên thần. Các vị phục vụ CKT, loan báo ơn cứu độ, thực hiện kế hoạch cứu độ (331-333).
- Đối với Giáo hội, các thiên thần trợ giúp cách huyền diệu và quyền năng cho tới ngày tận thế. Phụng vụ GH luôn xin các Ngài trợ giúp (334-335).
- Mỗi tín hữu có một thiên thần bản mạnh, luôn gìn giữ và chuyển cầu cho từ thời thơ ấu tới khi ly trần (336).
47. Thế giới hữu hình này được Thiên Chúa tạo dựng thế nào?
- Thiên Chúa đã dựng nên thế giới hữu hình với vẻ phong phú, và trật tự. Ngài tạo dựng thế giới trong chuỗi 6 ngày và ngày thứ Bảy Ngài nghỉ (337).
48. Thế giới hữu hình này có đặc tính gì?
- Mọi vật đều lệ thuộc Thiên Chúa (338).
- Mọi vật có vẻ tốt lành và hoàn hảo riêng (339).
- Chúa muốn các tạo vật liên kết lệ thuộc nhau (340).
- Vẻ đẹp của vũ trụ phản chiếu vẻ đẹp của Thiên Chúa Tạo thành (341).
- Tạo vật có những nấc thang giá trị hơn kém (342).
-  Con người là đỉnh cao của công trình tạo dựng (343).
- Các tạo vật liên đới tồn tại do Đấng Tạo hóa và vì vinh quang Ngài (344).
- Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ trong sáu ngày để hướng về ngày Sabbat, ngày Thánh hóa, thờ phượng Chúa.
Trong tạo dựng, Thiên Chúa đã đặt những qui luật vững chắc để con người, tín hữu dựa vào đó mà trung thành với Chúa (345-348).
- Đối với tín hữu, ngày Sabbat nay là ngày Chúa nhật, ngày Chúa Phục sinh. Ngày Sabbat hoàn thành việc sáng tạo trời đất, ngày Chúa nhật Phục sinh hoàn thành việc quan trọng hơn: Chúa Phục sinh (349).

* LOÀI NGƯỜI (The Human race) (355- 384)
49. Loài người được dựng nên theo hình ảnh Chúa là thế nào?
- Là loài có khả năng tự nhận biết, làm chủ mình, tự do hiến dâng và liên kết với các người khác.
- Là khả năng nhận biết, yêu mến Chúa, là tham dự vào cuộc sống Chúa. Chúa là đích và là lý do cốt yếu của nhân phẩm con người.
Nhờ ơn Thánh, Chúa cho con người được làm giao ước với Đấng Tạo hóa và trả lời Ngài trong đức tin và tình yêu (355-357).
Mầu nhiệm về loài người được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể (359).
Mọi văn hóa, mọi dân tộc đều là anh em với nhau (361).
50. Loài người có hồn có xác thế nào?
- Loài người có xác vật chất và hồn linh thiêng (chỉ hình bóng Thiên Chúa). Hồn làm cho xác thành người, thành đền thờ Chúa, hồn là mô thức (form) của xác, hồn làm cho xác chất thành linh động. Hồn và xác thành một bản tính người (362-365).
- Hồn được Chúa trực tiếp tạo dựng, và hồn mãi mãi không hư nát (bất tử), sẽ kết hợp lại với xác mình trong ngày sống lại. Khi nói "tinh thần, linh hồn, thể chất" (1 Tx 5,23) không có ý chỉ rằng tinh thần và linh hồn là hai nguyên nhân tách biệt (nhị nguyên) như có người chủ trương (366- 367).
51. Chúa dựng nên người có nam có nữ để làm gì?
- Cả hai đều là thực tại tốt đẹp theo ý Chúa. Hoàn toàn bình đẳng. Trong bản chất riêng của nam của nữ có phẩm giá như nhau do Chúa ban (369). Thiên Chúa không là nam cũng không là nữ. Ngài linh thiêng hoàn toàn, nhưng  sự hoàn hảo của người nam người nữ, là phản ảnh hoàn hảo vô cùng của Chúa, sự hoàn hảo của người cha, người mẹ, người vợ, người chồng (370).
- Cả hai người nam nữ phải sống cho nhau. Họ được làm chủ trái đất như người quản lý của Chúa. Họ có trắch nhiệm với thế giới (371-373).
52. Con người đầu tiên (tổ tông) được những ơn gì?
- Con người đầu tiên được sáng tạo tốt lành, được sống thân tình với Chúa, hòa thuận nơi bản thân, nơi nam nữ, nơi vạn vật, không phải chết, không phải khổ, làm chủ mình, làm chủ vạn vật, thoát dục vọng. Nhưng con người đã làm mất đi những ơn đó vì đã tự ý phạm tội (374-379).

* SA NGÃ (The Fall) (386-421)
53. Tội là gì?
- Tội là dùng sự tự do Chúa ban cho con người, thay vì để mến Chúa yêu người, lại để phạm đến Chúa và người ta.
54. Tại sao có tội lỗi, có điều xấu?
- Người ta chỉ hiểu được tội lỗi, điều xấu dưới ánh sáng ơn Thánh, điều lành. Chỉ khi hiểu biết kế hoạch của Thiên Chúa mới hiểu được tội (385-387). Không thể hiểu được nguyên tội (original sin) ngoài mầu nhiệm Chúa Kitô (388-390).
55. Tội của thiên thần là gì?
- Là sự chọn lựa tự do, triệt để và dứt khoát chối từ Thiên Chúa và vương quyền Ngài. Họ không thể sám hối nên không thể có thứ tha.
Hậu quả nghiêm trọng nhất quỉ gây ra là dụ dỗ, lừa dối, xúi gạt con người bất tuân Thiên Chúa. Tuy nhiên quyền lực (power) Satan không vô biên.
Hành động của chúng được Chúa quan phòng cho phép (permitted by divine providence). Đó là mầu nhiệm (mystery). Nhưng Ngài hướng dẫn thế giới bằng sức mạnh và dịu hiền. Ngài biến thành cái lợi cho ai yêu mến Ngài (391-395).
56. Tội Tổ tông (original sin) ở chỗ nào?
- Ở chỗ tổ tông nghe lời dụ dỗ của quỉ, muốn trở nên như Chúa, lạm dụng tự do, bất tuân lệnh Chúa (395-398).
57. Hậu quả tội tổ tông cho tổ tông?
- Lập tức mất ơn Thánh thiện ban đầu, sợ hãi Chúa, xác mất hòa hợp với hồn thiêng, với nhau, với các tạo vật, phải chết (về với bụi đất), tội lan tràn trên con cháu (396-401).
58. Tại sao tội Tổ tông Ađam trở thành tội cả loài người?
- Tội Ađam ảnh hưởng tới mọi người, vì Ađam và mọi người như một thân thể duy nhất. Ađam đã truyền lại bản tính này trong tình trạng sa ngã. Tội Ađam là tội do lây nhiễm chứ không do lỗi phạm, là một tình trạng chứ không là một hành động.
Tuy nhiên, nếu loài người liên lụy tội Ađam, loài người cũng liên đới hưởng ơn công chính. Chúa Kitô đã ban phép Rửa tội để xóa tội Ađam, cả những em nhỏ chưa có tội riêng (402-406).
59. Hậu quả của tội nguyên tổ và tội riêng thế nào?
-  Tội gây cho toàn thế giới trở thành thân phận lỗi lầm, gây ảnh hưởng tiêu cực trên cộng đoàn và cơ cấu xã hội. Thế giới bị đặt dưới ảnh hưởng của thần dữ. Con người bị đưa vào cuộc chiến giữa thiện và ác (407-408).
Nhưng Chúa đã không bỏ mặc con người, Ngài đã hứa ban Đấng Cứu Thế và Mẹ Ngài là Ađam và Evà mới (411).
60. Tại sao Chúa không ngăn cản nguyên tổ phạm tội?
- Chúa cho phép điều xấu xảy ra để từ đó Ngài rút ra điều tốt hơn. Ơn Thánh dư tràn hơn những gì thần dữ Satan đã cướp mất (412).


Đoạn II

TÔI TIN KÍNH CHÚA GIÊSU KITÔ
(I believe in Jesus Christ)

"LÀ CON MỘT ĐỨC CHÚA CHA" (His only Son)
(422-429)
61. Nguồn gốc Chúa Giêsu thế nào?
- Sau khi nguyên tổ loài người phạm tội, và khi thời gian chờ đợi đã đủ, Thiên Chúa sai Con Ngài sinh tại Be lem, bởi một phụ nữ người Do thái tên là Maria. Chúa Giêsu làm nghề thợ mộc tại làng Nagiaret, bị đóng đinh và chết tại thành Giêrusalem (422-424). Ngài chính là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống (424). Các môn đệ của Ngài đã loan truyền cho chúng ta Tin mừng về Ngài. (425)
Chúa Kitô chính là Trung tâm của Giáo lý Công Giáo. Phải giảng dạy về Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, mọi vấn đề khác phải qui hướng về Ngài (425-429).

"CÙNG LÀ CHÚA CHÚNG TÔI" (Our Lord)
(430-455)
62. Danh hiệu Giêsu là gì?
- Theo tiếng Do thái: Giêsu có nghĩa là Thiên Chúa cứu vớt. Danh Thánh Giêsu diễn tả chân tính và sứ mạng của Chúa. Dưới bầu trời không có Danh nào khác có thể cứu chúng ta. Danh Giêsu vượt trên mọi danh khác, thần dữ phải sợ Danh Ngài. Danh Giêsu là trung tâm kinh nguyện Kitô Giáo. Cao điểm của kinh Kính mừng là lời "Và Giêsu Con lòng Bà gồm phúc lạ" (430-435).
63. Danh hiệu Kitô là gì?
- Kitô là tiếng Hi lạp dịch từ tiếng Messia của Do thái, nghĩa là Đấng được xức dầu, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần xức dầu cho Ngài, Đức Kitô là Đấng được Chúa Cha sai xuống trần gian (436-440).
64. Danh hiệu Con Thiên Chúa là gì?
- Là nói lên sự liên kết giữa Thiên Chúa Con và Thiên Chúa Cha. Chính Chúa Cha đã nói lên điều này khi Chúa Giêsu chịu rửa trong sông Giođanô, cũng chính Chúa Kitô xác nhận trước Hội đồng Cộng tọa người Do thái (441-445).
65. Danh hiệu Chúa là gì?
- Là nói lên quyền tối cao của Ngài. Ta kêu cầu với Ngài là Chúa trong mọi kinh nguyện, tôn nhận Ngài là Thiên Chúa tối cao của trời đất, Ngài là chìa khóa, là trung tâm, là cùng đích của lịch sử nhân loại (446-451).

"BỞI PHÉP ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN  MÀ NGƯỜI XUỐNG THAI, SINH BỞI ĐỨC TRINH NỮ MARIA" (Was conceived by the power of The Holy Spirit, born of The Virgin Mary)

"CON THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI" (The Son of God was made man)
(456-483)
66. Tại sao Đức Giêsu làm người?
- Chúa làm người "Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi" (kinh Tin kính), để giao hòa chúng tôi cùng Thiên Chúa, để chúng tôi nhận biết tình yêu của Thiên Chúa, để nên mẫu mực cuộc sống Thánh thiện cho chúng tôi, để chúng tôi được dự vào bản tính Thiên Chúa. Đây là mầu nhiệm nhập thể (456-463).
67. Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là người thật sao?
- Đúng, Giáo hội luôn bênh vực chân lý này từ đầu, vì đã có những lạc Giáo chối bỏ điều chân thật này. Đức Mẹ thật là Mẹ của Chúa Giêsu Thiên Chúa (464-469).
68. Thiên Chúa làm người thế nào?
- Là bản tính loài người nơi Chúa đón nhận bản tính Thiên Chúa trong mầu nhiệm Ngôi hiệp (the mysterious union of the Incarnation). Tất cả hành động của Chúa Kitô đều qui về Ngôi Hai Thiên Chúa. Ngài có tâm hồn và lý trí, có ý chí và hành động theo hai bản tính: thần linh và nhân linh. Thân xác Ngài là thân xác con người, cũng bị giới hạn, trái tim Ngài cũng yêu như mọi người (470-478).

THỤ THAI BỞI CHÚA THÁNH THẦN, SINH BỞI ĐỨC TRINH NỮ MARIA (Conceived by The Holy Spirit, born of The Virgin Mary)
(484-511)
69. Chúa Kitô thành thai bởi phép Thánh Thần là thế nào?
- Với cách thế của Thiên Chúa, Thánh Thần là Đấng ban sự sống, đã cho Đức Maria mang thai Con Thiên Chúa, nhân tính Chúa Kitô đón nhận từ nhân tính của Đức Mẹ (484-487).
70. Đức Maria được trao phó nhiệm vụ nào trong lịch sử cứu chuộc?
- Thiên Chúa đã chọn một thiếu nữ trẻ tên là Maria, người Do thái, làng Nagiaret làm Mẹ Con Ngài. Đức Maria đã kết hôn với ông Giuse dòng vua Đavit (488). Suốt thời Cựu Ước, vai trò Đức Maria đã được chuẩn bị qua các phụ nữ Thánh thiện, sau cùng Ngài đã khai mở nhiệm cục mới (489).
Trong chương trình cứu rỗi, Đức Kitô đã chọn Mẹ Ngài ngay trước khi dựng nên vũ trụ.  Mẹ đã được "đầy ơn phúc", và nhờ công nghiệp của Chúa Kitô lập sau này, Mẹ đã được gìn giữ vô nhiễm nguyên tội (492). Suốt đời Mẹ không vương một tội nào (493). Mẹ tin chắc rằng Thiên Chúa làm gì cũng được (494).
Trong ngày truyền tin, Mẹ đã thưa lời Xin Vâng, dâng trọn mình để phục vụ mầu nhiệm cứu độ, tùy thuộc nơi Con và với Con. Mẹ chính là Mẹ Thiên Chúa. Mẹ thụ thai Chúa Giêsu mà còn đồng trinh trọn đời. Niềm tin này đã bị phản ứng mãnh liệt (498), nhưng Giáo hội luôn tuyên xưng: Đức Mẹ đồng trinh trọn đời (499). Kinh Thánh có nói tới anh em Chúa Giêsu, nhưng phải hiểu là anh em họ gần của Chúa (500). Đồng trinh là dấu chỉ đức tin của mẹ và dấu chỉ Mẹ trọn đời dâng hiến cho Chúa (506). Mẹ Maria vừa là trinh nữ vừa là Mẹ (507).

NHỮNG MẦU NHIỆM ĐỜI CHÚA KITÔ (The Mystery of life of Christ)
(512-570)
71. Đời Chúa Giêsu có những mầu nhiệm nào?
- Kinh Tin kính chỉ nói tới mầu nhiệm Nhập thể (thụ thai, giáng sinh) và Vượt qua (thương khó, đóng đinh, chết, an táng, xuống ngục tổ, phục sinh, lên trời), nhưng những mầu nhiệm khác Chúa đã làm, đã dạy phải được nhìn dưới hai mầu nhiệm này.
Thánh kinh chỉ viết "để anh em tin Đức Giêsu là Đức Kitô Con Thiên Chúa, để khi tin, anh em được sống nhân Danh Ngài" (Ga 20,31).
Cuộc đời Đức Giêsu là mạc khải về Chúa Cha, là mầu nhiệm cứu chuộc, là thu góp những con người sa ngã. Chúng ta được gọi để sống như Chúa Kitô, kết hợp với Ngài (521).
- Các mầu nhiệm đời Chúa có thể liệt kê: Gioan Tiền hô dọn đường, giáng sinh, cắt bì, hiển linh, dâng mình trong Đền thờ, trốn qua Ai cập, sống ẩn dật, đi lễ Đền thờ, chịi Gioan làm phép rửa, chịu cám dỗ, giảng đạo, (sáng ngời trên núi( hiển dung), vào Giêrusalem cách trọng, tất cả đều có ý nghĩa riêng (512-570).

"CHỊU KHỔ HÌNH THỜI PHONGXIÔ PHILATÔ,  CHỊU ĐÓNG ĐINH, CHẾT VÀ TÁNG XÁC" Suffered under Pontius Pilate, was cruxified, died, and was buried)"
(571-629)
72. Chúa Giêsu vâng lời Cha đi giảng Nước trời, tại sao Ngài bị chống đối?
- Chúa đã giảng dậy và làm nhiều phép lạ, nhưng dưới mắt nhiều người Do thái, việc Chúa làm như chống lại lề luật của Dân Riêng: Họ vâng phục toàn bộ lề luật cả trong những giải thích truyền khẩu, họ coi Giêrusalem là nơi Thánh tối cao, họ tin vào Thiên Chúa duy nhất, không ai được coi mình bằng Thiên Chúa (574).
- Thực ra Chúa Kitô không xóa bỏ luật cũ núi Sinai, nhưng Ngài dạy điều hoàn hảo hơn (577), - Chúa công khai giảng dạy niềm trọng kính sâu xa nhất đối với Đền Thờ, Ngài phẫn nộ vì người ta biến thành nơi buôn bán (583-586), - Ngài thực sự là Ngôi Hai Thiên Chúa.

"CHỊU ĐÓNG ĐINH , CHẾT TRÊN THẬP GIÁ" (was cruxified, died on the Cross)
(595-623)
73. Mọi người Do thái có đồng ý kết án Chúa không? Có được qui tội giết Chúa cho toàn dân Do thái không?
- Giáo quyền Do thái đã không đồng nhất ý kiến trong vấn đề xử án Chúa Giêsu, có người bênh, người chống (595). Những lầm lỗi đã gây ra trong cuộc thương khó không thể qui trắch bất phân biệt cho mọi người Do thái hồi đó hoặc người Do thái thời nay, họ cũng không bị Thiên Chúa ruồng bỏ (597).
74. Vậy ai là tác giả cuộc thương khó của Chúa?
- Chính các tội nhân là tác giả và như những dụng cụ hành hạ, gây ra những nỗi đau đớn cho Đấng Cứu chuộc (598).
75. Có phải Chúa Kitô chịu chết do kế hoạch Thiên Chúa định trước không? Vậy vai trò của những người kết án Chúa ra sao?
- Việc Chúa Kitô chịu nạn chịu chết là mầu nhiệm trong kế hoạch Thiên Chúa từ trước, điều này không có nghĩa là những kẻ kết án, đánh đập Chúa chỉ là những diễn viên thụ động trong bản kịch Thiên Chúa đã viết sẵn. Trong Chúa mọi thời điểm đều là hiện tại, Chúa cho phép mọi hành động xuất phát từ những con người mù quáng để hoàn thành kế hoạch cứu độ (plan of salvation) của Ngài (600)
76. Chúa Kitô đã chết vì ai?
- Ngài đã chết vì tội chúng ta (601). Cả đời Ngài là lễ tế dâng lên Cha (606), là Chiên gánh tội trần (608), Ngài tự nguyện chết để cứu chuộc ta (609-617).
77. Chúa chịu khổ và chết có ý nghĩa gì với ta?
- Ngài mời ta vác thập giá theo Ngài, Ngài chỉ đường cho ta đi, Ngài nối kết ta với hy lễ Ngài, như Mẹ Ngài đã thật sự kết hợp trong mầu nhiệm cứu độ, vì ngoài thập giá không có thang nào khác để lên trời (618).

CHÚA KITÔ ĐÃ ĐƯỌC CHÔN TÁNG (Was buried
(624-630)
78. Chúa được chôn táng thế nào?
- Con Thiên Chúa làm người đã chết thực và được chôn táng thực (629). Nhờ phép Rửa tội, ta cũng được mai táng với Chúa Kitô (628).

"CHÚA KITÔ XUỐNG NGỤC TỔ TÔNG, (Descended into hell)
NGÀY THỨ BA BỞI TRONG KẺ CHẾT SỐNG LẠI" (the third day He rose from the dead)"
(632-658)
79. Chúa xuống ngục tổ tông nghĩa là gì, để làm gì?
- Ngục tổ tông, còn được gọi là âm phủ, đều là nơi những người đã chết không được thấy Thiên Chúa, đó là trường hợp của những người chết dữ, hoặc chết lành đang đợi Đấng Cứu thế.
Chúa không xuống ngục tổ tông để giải phóng những người đã bị kết án, cũng không phải hoả ngục, nhưng để giải phóng những người công chính đã sống trước Ngài (633).
80. Chúa Kitô đã sống lại thế nào?
- Đó là biến cố lịch sử, Thánh Phaolô đã viết về biến cố này cho Giáo đoàn Corinhto vào khoảng năm 56 (639). Mồ trống (640), các cuộc hiện ra (641), các môn đệ lại sờ thấy và dùng bữa với Chúa (645).
- Đó là biến cố cao siêu, vì là công trình của Thiên Chúa (647-650).
81. Ý nghĩa và quan trọng của việc Chúa Phục sinh đối với ta thế nào?
- Nếu Chúa không phục sinh, các tông đồ rao giảng vô ích (651). Ngài đã phục sinh - để hoàn tất những lời đã hứa (652), - để xác nhận tính Thiên Chúa của Ngài 653), sau cùng, Chúa phục sinh là nguyên lý cuộc phục sinh sau này của ta. Trong khi chờ đợi phục sinh, ta "không còn sống cho ta, nhưng cho Đấng đã chết và phục sinh vì ta" (655).

"LÊN TRỜI NGỰ BÊN HỮU CHÚA CHA PHÉP TẮC VÔ CÙNG" (Jesus ascended into heaven and sits at the right hand of God The Father almighty)"
(659-667)
82. Sau khi sống lại Chúa đã làm gì?
- Trong thời gian 40 ngày còn ở tại thế, Chúa hiện ra, ăn uống thân tình với các môn đệ, chỉ dạy họ về Nước trời (659).
83. Chúa lên trời nghĩa là gì?
- Sau 40 ngày, Ngài lên trời đánh dấu việc nhân tính Ngài đi vào cõi trời, và từ đó, sau này Ngài sẽ trở lại. Cõi trời này giấu ẩn mọi con mắt người ta (665). Ngài ngự bên hữu Cha, nghĩa là Ngài được vinh quang, danh dự (663).
84. Biến cố Chúa lên trời có ý nghĩa gì với ta?
- Có ý nghĩa rằng: Ngài là Đầu Giáo hội, vào trời vinh quang của Thiên Chúa trước, để ta, như thân thể được sống với hy vọng ngày nào đó được sống muôn đời với Ngài (665).
85. Chúa Kitô bây giờ còn làm gì cho ta?
- Ngài không ngừng chuyển cầu cho ta như Đấng Trung gian thường xuyên bảo đảm đổ ơn Thánh Thần xuống cho ta (665).

"NGÀY SAU BỞI TRỜI LẠI XUỐNG PHÁN XÉT KẺ SỐNG VÀ KẺ CHẾT" (He will come to judge the living and the dead)
(668-682)
86. Đức Kitô đã lên trời, nhưng Ngài tiếp tục công việc cứu chuộc thế nào?
- Ngài vẫn còn tại thế nhờ Giáo hội Ngài (668). Ngài hiện diện nhờ những dấu chỉ lạ lùng kèm theo lời loan báo của Giáo hội (669). Vương quyền của Ngài chưa hoàn tất, vì còn có những đụng độ với năng lực xấu (671).
87. Thời hiện tại là thời nào?
Thời hiện tại là thời của Chúa Thánh Thần, là thời chứng tá (witness), nhưng cũng là thời gian nan đau khổ, thử thách, đó là thời chờ đợi và tỉnh thức chờ ngày chiến thắng cuối cùng của Chúa (672).
88. Ngày chung thẩm xảy ra lúc nào?
-  Ngày chung thẩm (phán xét chung) có thể xảy ra ở mọi thời (673), nhưng trước khi Đức Kitô trở lại, Giáo hội phải vượt qua thử thách cuối cùng, thử thách làm lung lạc niềm tin của nhiều tín hữu, nhất là thử thách lừa bịp của Phản Kitô (Antichrist: quỉ vương) (675).
89. Cuộc chung thẩm sẽ xảy ra thế nào?
- Lúc đó cách sống của mỗi người và bí mật các tâm hồn sẽ phơi bày trước ánh sáng. Lỗi bất tín coi thường ơn Chúa sẽ bị kết án. Thái độ với tha nhân sẽ cho thấy con người đón nhận hay từ chối ơn Thánh và tình yêu Thiên Chúa.
Nhưng Chúa Con đã không đến để phán xét mà để cứu vớt. Chính vì từ chối ơn Thánh Chúa trong cuộc đời, nên mỗi người tự phán định chính mình. Họ sẽ đón nhận tùy theo công việc đã làm, họ có thể tự kết án mình muôn đời vì từ chối Thánh Thần Tình yêu (679).


Đoạn III

TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN
(I believe in The Holy Spirit)
(GlCg92 từ số 683-747)

90. Chúa Thánh Thần có cần thiết cho đời sống người Công Giáo không? (683-686)
- Rất cần thiết, vì không có Chúa Thánh Thần, không ai có thể gọi Đức Kitô là Chúa, không ai có thể tiếp xúc với Đức Kitô. Chúa Thánh Thần thúc đẩy ta trước, qua Bí tích Rửa tội trong Giáo hội, Ngài ban sức sống cho ta từ Chúa Cha và Chúa Con.
Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa ngôi Ba, dù khác biệt về ngôi, nhưng đồng bản tính (consubtantial with) với ngôi Cha và ngôi Con. Chúa Thánh Thần hành động với ngôi Cha và ngôi Con từ khởi đầu đến khi hoàn thành kế hoạch cứu rỗi loài người.
91. Giáo hội dạy gì về Chúa Thánh Thần? (688)
- Giáo hội dạy ta biết về Chúa Thánh Thần: Ngài linh ứng (inspiration) cho một số người viết Kinh Thánh, Ngài thúc đẩy các Thánh Giáo phụ (Fathers) là chứng nhân trong Thánh truyền (Sacred Tradition), Ngài trợ giúp quyền Giáo huấn Giáo hội, Ngài đưa ta vào hiệp thông (communicate) với Đức Kitô trong Phụng vụ Bí tích, Ngài chuyển cầu cho ta khi cầu nguyện,  Ngài xây dựng Giáo hội bằng đời sống tông đồ, trong các đoàn sủng (charism) và thừa tác vụ (ministry), Ngài tỏ ra sự Thánh thiện của Giáo hội trong các Thánh.
92. Sứ vụ chung (joint mission) của Chúa Con và Chúa Thánh Thần là sứ vụ nào? (689-690)
- Khi Đức Kitô xuất hiện như hình ảnh của Thiên Chúa Cha, Chúa Thánh Thần đã mạc khải Chúa Kitô; Khi Đức Kitô được xức dầu, Chúa Thánh Thần là dầu xức; Khi Đức Kitô bỏ trần gian về lại với Chúa Cha, Chúa Thánh Thần được sai đến trần gian. Sứ vụ chung là Chúa Cha cho loài người được ơn làm con cái qua Chúa Con, Chúa Thánh Thần đón nhận con cái ấy và làm cho chúng sống trong Đức Kitô.
93. Chúa Thánh Thần được gọi bằng những tên (titles) nào, những biểu tượng (symbols) nào? (691-701)
- Thánh Thần (Spirit), theo nguyên nghĩa là hơi thở (breath), không khí (air), làn gió (wind). Chúa Kitô gọi Chúa Thánh Thần là Đấng bào chữa (Paraclet), Thần Chân lý. Các Tông đồ gọi Chúa Thánh Thần là Thần linh của lời hứa (The Spirit of the promise), Thần linh của nghĩa tử (the Spirit of Adoption), Thần linh của Đức Kitô, Thần linh của Chúa, Thần linh của vinh quang.
Chúa Thánh Thần được biểu tượng bằng: Nước (Thánh tẩy), Xức dầu (Thêm sức), Lửa (năng lực biến hóa), Mây và Ánh sáng (mạc khải Thiên Chúa hằng sống), Dấu ấn (ấn tích việc xức dầu), Bàn tay (Chúa Kitô đã đặt tay chúc phúc), Ngón tay (nhờ ngón tay Chúa đuổi qủi), Bồ câu (sau khi Chúa chịu rửa).
94. Chúa Thánh Thần được nói tới trong thời Cựu Ước thế nào? (702-716)
- Trong Cựu Ước, Thánh Thần có mặt ngay từ đầu cuộc sáng tạo vũ trụ, Ngài Thánh hóa và làm sống động vạn vật trong Cha và Con. Ngài tuyển chọn dân riêng qua Abraham hướng về Đức Kitô, Ngài nói qua các tiên tri (ngôn sứ) về Chúa Kitô, Ngài ban lề luật để dìu dắt dân tới Đức Kitô, Ngài bắt dân phải lưu đ3/4y để thanh luyện, và cho họ trở về.
95. Chúa Thánh Thần được nói tới trong thời Tân Ước thế nào? (717-730)
- Ngài đã cho Gioan tràn đầy Thánh thần từ trong lòng mẹ, Ngài chuẩn bị  cho Đức Maria  đón nhận Đức Kitô nơi dân Thiên Chúa. Qua Đức Maria, Thánh Thần đã ban cho thế giới Đấng Emmanuel. Ngài xức dầu tấn phong Đức Kitô là Đấng Cứu Thế, và những điều khác nói về Đức Kitô trong kinh Tin kính. Chúa Kitô đã hứa ban Thánh Thần cho Giáo hội. Tới giờ đã định, Ngài trao phó Thần khí Ngài trong tay Chúa Cha. Ngài ban Thánh Thần khi hà hơi trên các môn đệ.
96. Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo hội thế nào? (731- 747)
- Ngài đến với Giáo hội dưới hình lưỡi lửa vào ngày lễ Ngũ tuần (Pentecost). Ngài là Tình yêu: tình yêu là ơn đầu tiên chứa đựng mọi ơn khác, từ đó ban ơn tha tội qua Bí tích Rửa tội. Nhờ tình yêu này, ta sống đời sống mới trong Chúa Kitô. Nhờ Thánh Thần, đời sống ta sinh hoa trái: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. (Gl 5,22-23). Qua Giáo hội, Thánh Thần chuẩn bị, lôi kéo họ về, Ngài bày tỏ Chúa Kitô Phục sinh, Ngài làm cho mầu nhiệm Chúa Kitô hiện diện tuyệt vời trong Bí tích Thánh Thể, để giao hòa họ và đưa họ vào hiệp thông với Thiên Chúa Cha. Qua các Bí tích của Giáo hội, Đức Kitô thông ban Thánh Thần là Đấng Thánh Hóa cho các phần Thân thể Ngài là Giáo hội.

"TÔI TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO"
(I believe in The holy Catholic Church)
(748-945)
97. Giáo hội được gọi bằng những danh xưng và hình ảnh nào? (751-757)
- Giáo hội (Ekklesia) có nghĩa là cuộc triệu tập tôn Giáo, Giáo hội (Church) cũng có nghĩa là cộng đoàn của Chúa, cộng đoàn phụng vụ, cộng đoàn địa phương, cộng đoàn hoàn vũ. Giáo hội là Dân Chúa đã được qui tụ trên thế giới.
- Giáo hội được gọi là Chuồng chiên, với lối vào duy nhất, chính yếu là Đức Kitô. Giáo hội là Cánh đồng của Chúa, trong đó cây nho chân thật là Đức Kitô. Giáo hội là Nh3/4 của Chúa. Giáo hội là Giêrusalem mới, Giêrusalem trên trời. Giáo hội là Hiền thê (a Bride) của Con Chiên vô nhiễm.
98. Nguồn gốc, nền tảng và sứ mạng của Giáo hội? (758-769)
- Khi tạo dựng trời đất, Thiên Chúa đã hình dung ra Giáo hội. Giáo hội được chuẩn bị lạ lùng trong lịch sử Israel khởi đầu từ ơn gọi Abraham, được Chúa Kitô thiết lập vào thời buổi cuối cùng từ khi chọn nhóm 12, được biểu tỏ nhờ Thánh Linh trong lễ Ngũ tuần, và hoàn tất trong vinh quang, dù đầy cam go.
99. Mầu nhiệm Giáo hội? (770-780)
- Giáo hội vừa hữu hình (có cơ cấu phẩm trật, cộng đoàn hữu hình, Giáo hội trần thế, nhân linh); vừa vô hình (nhiệm tể Chúa Kitô, cộng đoàn thiêng liêng, ơn phúc trời cao, thần linh)
- Giáo hội là mầu nhiệm hiệp thông con người với Thiên Chúa nhờ Đức Kitô.
- Giáo hội là Bí tích tổng quát về ơn cứu độ trong Đức Kitô.
100. Giáo hội được gọi là Dân Chúa? (781-786)
- Những đặc tính phân biệt Dân Chúa với các nhóm tôn Giáo, chủng tộc, văn hóa khác ở chỗ Thiên Chúa đã chọn dân này, Đức Kitô đã là thành phần của dân này, Thánh Linh ngự trong họ như đền thờ, họ có giới luật mới, họ có sứ vụ là ánh sáng thế gian, định mệnh dân này khai mở và đi tới hoàn thành. Họ là dân tư tế và dân vua.
101. Giáo hội được gọi là Thân mình Đức Kitô (Body of Christ)? (787-795)
- Từ đầu, Ngài cho các môn đệ tham dự cuộc sống của Ngài, Ngài mạc khải Nước Trời cho họ, dạy họ "Ở lại trong Ngài", "Ai ăn thịt và uống Máu Thầy, sẽ ở trong Thầy".
Khi về trời, Ngài đã sai Thánh Linh đến với các môn đệ...Trong thân thể này, sức sống của Đức Kitô sống tràn qua các tín hữu. Các Bí tích thực sự kết hợp họ với Đức Kitô đau khổ và vinh quang.
Đức Kitô là Đầu của Thân mình này, Ngài là nguyên lý Sáng tạo và cứu độ. Ngài hiệp nhất chúng ta với cuộc Tử nạn của Ngài, Ngài giúp chúng ta phát triển trong Ngài.
102. Giáo hội là Hiền Thê của Chúa Kitô (the Bride of Christ)? (796)
- Chính Chúa đã nói Ngài là Phu quân (Husband) (Mc 2,19) của Giáo hội, Thánh Phaolô cũng nói như thế (Ep 5,26).
103. Sao gọi Giáo hội là Đền thờ Chúa Thánh Linh (the Temple of The Holy Spirit)? (797)
- Vì Chúa Thánh Linh làm cho Giáo hội trở thành Đền thờ sống động của Chúa (2 C 6,16).
104. Giáo hội có mấy đặc tính?
- Giáo hội có 4 đặc tính: duy nhất, Thánh thiện, công Giáo, tông truyền? (811-870)
            Gọi là Giáo hội Duy nhất (One):  - vì nguồn gốc phát xuất từ Ba ngôi Thiên Chúa, - vì chỉ có một Đấng Sáng lập là Chúa Kitô, - vì linh hồn của Giáo hội là Chúa Thánh linh.
105. Tại sao Giáo hội duy nhất mà lại có nhiều Giáo hội địa phương?
- Tuy có nhiều Giáo hội địa phương khác nhau...nhưng vẫn không mâu thuẫn cuộc hiệp nhất của Giáo hội. Mối liên kết hiệp nhất trên hết là Đức Ái (Cl 13, 4).
106. Nguyên nhân nào gây đổ vỡ Giáo hội thành nhiều Giáo hội khác như lạc Giáo, ly Giáo?
- Nguyên nhân gây đổ vỡ chính là tội lỗi. Dầu sao, Giáo hội cũng rất kính trọng "những Giáo hội khác" trong tình nghĩa và yêu thương, vì họ là những anh em trong Chúa (UR 3).
107. Để hiệp nhất các Giáo hội, cần điều kiện gì?
- Cần Canh tân Giáo hội để trung thành với ơn gọi mình, trở về sống Tin mừng hơn, cầu nguyện chung, hiểu biết nhau, Giáo dục đại kết cho tín hữu, đối thoại và gặp gỡ nhau, cộng tác trong các lãnh vực, hy vọng vào lời cầu nguyện của Chúa Kitô, đây là việc quá sức và vượt khả năng con người.
108. Tại sao gọi là Giáo hội Thánh thiện (Holy) ?
- Vì Ba ngôi là Thánh, - Vì Chúa Kitô tự hiến để Thánh hóa Giáo hội, - Vì"mọi công trình của GH hướng tới Thánh hóa con người trong Đức Kitô" (SC 10), - Vì trong GH đầy tràn những phương thế cứu độ (UR 3). Đức Ái là linh hồn của cuộc sống Thánh thiện, là linh hồn của các phương thế Thánh hoá (LG 42). Giáo hội Thánh thiện nhưng cưu mang các tội nhân trong lòng mình.
Khi phong Thánh cho một số tín hữu đã anh hùng thực thi các nhân đức và trung thành với ơn Thánh Chúa, GH nhìn nhận năng lực Thánh hóa của Chúa Thánh Thần nơi Giáo Hội.
Nơi bản thân Đức Trinh nữ Maria diễm phúc, Giáo Hội hoàn toàn Thánh thiện.
109. Tại sao gọi là Giáo hội Công Giáo (Catholic) ?
 - Vì Giáo hội là Công Giáo dưới 2 khía cạnh: 1/ Có Đức Kitô hiện diện (đâu có Đức Kitô đấy có Giáo hội), và 2/ Vì Đức Kitô sai Giáo hội đến với toàn thể nhân loại. Đức Kitô hiện diện nơi mỗi Giáo hội địa phương, dù là cộng đoàn nhỏ bé, nghèo hèn, bị phân tán.
110. Ai thuộc về Giáo hội Công Giáo?
- Mọi người hướng về hoặc thuộc về GHCG dưới nhiều hình thức khác nhau, đó là: Tín hữu Công Giáo, những người tin vào Chúa Kitô, những người mà ơn Chúa kêu gọi tới ơn cứu rỗi.
111. Tín hữu Công Giáo là những ai?
- Là những người đã gia nhập Giáo hội trọn vẹn, chấp nhận tổ chức Giáo hội, phương tiện cứu rỗi, lãnh các Bí tích.
112. Mọi tín hữu Công Giáo có được cứu rỗi linh hồn (sự sống đời đời) cả không?
- Những tín hữu Công Giáo "không bền vững trong Đức Ái" (không có ơn nghĩa Chúa, mắc tội trọng mà không sám hối) thì không được cứu rỗi, vì xác ở trong Giáo hội mà hồn thì không.
113. Những người không phải là Công Giáo, nhưng tin vào Chúa Kitô, họ có thông hiệp với Giáo hội Công Giáo không?
- Vì họ không tuyên xưng đức tin trọn vẹn, không thông hiệp với Đấng Kế vị Phêrô, nên họ chỉ hiệp thông cách nào đó với Giáo hội Công Giáo, nhất là Giáo hội Chính thống, Giáo hội này rất gần với Công Giáo.
114. Giáo hội có thái độ nào với những người ngoài Kitô Giáo?
- Với người Do thái: Giáo hội Công Giáo thấy có mối liên kết với người Do thái, dù họ không biết hoặc không thừa nhận Chúa Giêsu là Đức Kitô Cứu chuộc. - Với người Hồi Giáo: Họ công nhận Đấng Sáng Tạo, và tuyên xưng niềm tin của Abraham. - Với những tôn Giáo ngoài Kitô Giáo: Họ là những người có chung nguồn gốc và cùng đích của nhân loại. Giáo hội "nhìn nhận tất cả những gì là tốt lành và chân thật trong các tôn Giáo này như sự chuẩn bị cho Tin mừng cứu độ", tuy họ có những sai lầm làm sai lạc hình ảnh Thiên Chúa.
115. Ngoài Giáo hội Công Giáo có được cứu rỗi không?
- Dựa trên Thánh kinh và Thánh Truyền, Công đồng Vatican 2 dạy: Giáo hội Công Giáo cần thiết cho việc cứu rỗi, vì chỉ có một Chúa Kitô là Trung gian, là đường cứu rỗi, thế mà Ngài hiện diện nơi thân mình Ngài là Giáo hội. Ngài còn nói rõ sự cần thiết của đức Tin và Bí tích Rửa tội là cửa vào Giáo hội. Vậy, nếu biết Giáo hội Công Giáo là cần thiết mà - vẫn không muốn gia nhập, - hoặc không muốn kiên trì ở lại trong Giáo hội này, thì KHÔNG ĐƯỌC cứu rỗi (846).
116. Đối với những ai vô tình không biết Tin Mừng Chúa Kitô và Giáo hội Công Giáo, họ có được cứu rỗi không?
- Nếu họ có lòng thành đi tìm Chúa, và họ gắng làm theo Ý Chúa, theo tiếng lương tâm của họ, họ có thể được cứu rỗi.

* GIÁO HỘI TRUYỀN BÁ TIN MỪNG:
117. Tại sao Giáo hội tôn trọng tự do tín ngưỡng mà lại còn truyền Giáo?
- Nhận thấy có những người vô tình không biết Tin mừng cứu độ, Giáo hội có bổn phận và có quyền loan báo Tin Mừng này, vì - Truyền Giáo là điều thuộc bản tính đòi buộc của Giáo hội Công Giáo. Giáo hội làm theo lệnh truyền của chính Chúa Kitô (Mt 28,19-20), Giáo hội truyền Giáo vì Tình yêu Chúa Kitô thúc đẩy (2 C 5, 14). Thiên Chúa muốn mọi người được cứu rỗi (1 Tm 2, 4).
118. - Nguồn gốc và mục đích của sứ mạng truyền Giáo phát xuất từ đâu?
- Phát xuất từ chính Tình yêu bao la Chúa Ba ngôi.
119. Giáo hội truyền Giáo theo đường lối nào?
- Theo đường lối do Chúa Thánh Linh hướng dẫn, vì Ngài đóng vai chính trong việc truyền Giáo, Ngài đã dẫn Đức Kitô đi đường nghèo khó...Ngài cũng dẫn Giáo hội đi theo lối Chúa Kitô trong đường nghèo khó, vâng lời, phục vụ, tự hiến đến chết. Chỉ có thể mở rộng Nước Chúa trên đường "sám hối và canh tân", qua cửa hẹp Thập giá. Phải đồng hành với nhân loại và chia sẻ số phận của họ. Phải kiên tâm. Phải đem Phúc âm vào văn hóa của địa phương. Gắng đi tới hiệp nhất các người tin vào Chúa Kitô (Tin lành...). Phải có đối thoại cách kính cẩn với những người chưa chấp nhận Tin mừng.
120. Gọi là Giáo Hội Tông truyền (Apostolic) vì lý do nào?
-  Vì được thiết lập trên nền tảng các Tông đồ, theo 3 ý nghĩa sau: - a/ Giáo hội đã và đang được xây trên nền các Tông đồ là chứng nhân chính Chúa Kitô đã chọn và sai đi, - b/ Giáo hội gìn giữ và truyền đạt lời giảng, kho đức tin từ thời các tông đồ nhờ Thánh Thần trợ giúp, - c/ Giáo hội còn tiếp tục giảng dạy nhờ các Thánh Tông đồ, những người kế tiếp các tông đồ là hàng Giám mục, linh mục hiệp nhất với Đức Giáo hoàng kế vị Thánh Phêrô.
121. Sứ mạng (mission) của các Tông đồ là thế nào?
- Chúa Kitô đã chọn nhóm mười hai, Ngài sai đi (apostoloi). Chúa liên kết nhóm mười hai vào sứ mạng Ngài đã nhận từ Cha. Trong nhiệm vụ nhóm mười hai, có khía cạnh không thể chuyển giao cho ai là "chứng nhân của Chúa Phục sinh và là nền tảng Giáo hội". Khía cạnh khác có thể chuyển giao cho các người kế vị, vì Chúa muốn Giáo hội trường tồn đến ngày tận thế.
122. Các Giám mục kế vị (successor) Tông đồ có sứ mạng nào?
- Để chu toàn sứ mạng Chúa trao, trước khi qua đời các tông đồ đã ủy nhiệm cho các cộng sự viên. Bởi vậy, theo sự thiết lập của Chúa, các Giám mục kế vị các tông đồ làm chủ chăn của Giáo hội, ai nghe các Ngài là nghe Chúa, không nghe các Ngài là không nghe Chúa (861).

* VIỆC TÔNG ĐỒ (apostolate):
123. Giáo hội và Giáo dân có nhiệm vụ làm việc tông đồ như thế nào?
- Tất cả Giáo hội có bản chất tông đồ. Tất cả Giáo hội là tông đồ, vì đã được sai đi khắp trần gian. Ơn gọi Kitô hữu, theo bản chất, cũng là ơn gọi làm tông đồ (863).
124. Việc tông đồ là gì?
- Là các hoạt động của nhiệm thể hướng tới việc mở rộng Nước Chúa Kitô khắp thế gian. Nguồn gốc việc tông đồ là Chúa Kitô được Cha sai đi.
125. Hoa trái của việc tông đồ tùy vào đâu?
- Bất cứ thừa tác viên chức Thánh hay Giáo dân, hoa trái việc tông đồ của họ tùy thuộc vào sự hiệp nhất giữa cuộc sống của họ với Chúa Kitô. Chúa Thánh Linh kêu gọi muôn vàn cách khác nhau tùy thời đại.
126. Hồn sống của mọi hoạt động tông đồ là gì?
- Chính là đức Ái tuôn trào từ Thánh Thể Chúa Kitô là hồn sống mọi hoạt động tông đồ.

* CÁC TÍN HỮU CHÚA KITÔ: HÀNG GIÁO PHẨM (Hierarchical), GIÁO DÂN (Laity), TU SĨ (Consecrated life)
(Glcg92 871-)
127. Khi gọi là tín hữu Chúa Kitô (Kitô hữu) thì có ý chỉ những ai?
- Có ý chỉ những người đã nhập vào Thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô nhờ Bí tích Rửa tội và làm thành Dân Thiên Chúa.
128. Các Kitô hữu giống nhau và khác nhau ở điểm nào?
- Giống nhau chỗ các Kitô hữu đều bình đẳng về phẩm giá và hoạt động, nhưng khác nhau ở thừa tác vụ: Có các tông đồ và người kế vị nhiệm vụ giảng dạy, Thánh hóa, cai quản; các Giáo dân, các tu sĩ.
129. Địa vị của Đức Giáo hoàng và các Giám mục như thế nào?
- Từ ban đầu, Chúa Kitô đã lập Nhóm mười hai có Phêrô là thủ lãnh. Trong Giáo hội ngày nay, Đức Giáo hoàng giữ địa vị tối cao kế vị Thánh Phêrô, cùng làm việc với Đức Giáo hoàng là Tập đoàn các Giám mục hiệp nhất với Ngài.
130. Nhiệm vụ của Đức Giáo hoàng và các Giám mục là gì?
- Đó là ba nhiệm vụ: Giảng dạy, Thánh hóa và cai quản.
131. Các Đức Giáo hoàng giảng dạy điều gì?
- Các Ngài loan báo Tin mừng của Chúa Kitô cho mọi người.
132. Khi giảng dạy Tin mừng, các Ngài có sai lầm không?
- Chúa Kitô ban cho Đức Giáo hoàng ơn bất khả ngộ (infallibility) khi Ngài tuyên bố điều gì về đức tin và luân lý từ ngai Thánh Phêrô. Giám mục đoàn và Công đồng chung của Giáo hội cũng được ơn bất khả ngộ này khi cùng với Đức Giáo hoàng tuyên bố những điều phải tin.
133. Khi Thánh hóa, các Ngài chú trọng tới điều gì nhất?
- Chú trọng tới Bí tích Thánh Thể là Trung tâm mọi sinh hoạt của Giáo hội. Các Ngài Thánh hiến Giáo hội bằng cầu nguyện và việc làm, bằng Lời Chúa và các Bí tích.
134. Khi cai quản, các Ngài chú trọng tới điều gì?
- Các Ngài khuyên bảo, làm gương sáng, dùng uy quyền trong tinh thần phục vụ của Chúa Kitô.
135. Cộng tác với các Đức Giám mục có những ai?
- Có các linh mục, các phó tế.
136. Danh từ Giáo dân để chỉ những ai?
- Để chỉ những thành viên không có chức Thánh như các Giám mục, linh mục, phó tế. Giáo dân cũng không phải là tu sĩ, các tu sĩ có lời khấn dòng.
137. Ơn gọi (vocation) của Giáo dân là gì?
- Là tìm kiếm Nước Thiên Chúa trong khi sử dụng các sự việc trần thế. Giáo hội tôn trọng những sáng kiến của họ trong việc phục vụ Giáo hội. Họ thuộc về Giáo hội và là Giáo hội.
138. Giáo dân tham dự vào nhiệm vụ tư tế (priestly office) của Giáo hội thế nào?
- Họ cầu nguyện, làm việc tông đồ, sống đời gia đình, lao nhọc, ngay cả giải lao trong Chúa. Họ có thể thi hành nhiệm vụ đọc Sách và giúp lễ. Ở một số nơi thiếu thừa tác viên chức Thánh, họ còn được chủ tọa các Giờ kinh Phụng vụ, Rửa tội, cho Rước lễ theo qui định Giáo hội (901).
139. Giáo dân tham dự vào nhiệm vụ ngôn sứ (prophetic office) thế nào?
- Bằng việc loan báo Tin mừng và sống đạo trong lời nói, hành động; góp ý kiến tốt cho lợi ích Giáo hội. Những Giáo dân có khả năng cũng góp phần dạy Giáo lý, các khoa học Thánh và truyền thông xã hội (communications media) (906).
140. Giáo dân tham dự vào nhiệm vụ làm vua (kingly office) thế nào?
- Bằng sự từ bỏ mình và sự Thánh thiện của đời sống. Người đáng gọi là vua là người cai trị được thân xác mình, người đó có tự do và độc lập không bị lôi cuốn vào tội lỗi. Giáo dân được mời gọi cộng tác với chủ chăn để phục vụ cộng đoàn Giáo hội (908).
141. Bậc sống của các tu sĩ tuyên khấn dòng có thuộc phẩm trật Giáo hội không?
- Không thuộc về phẩm trật Giáo hội (hierarchical structure of the Church), nhưng thuộc về sự Thánh thiện của Giáo hội (914).
142. Các tu sĩ tuyên những lời khấn nào theo tinh thần Phúc âm?
- Tuyên khấn giữ đức Khiết tịnh, Khó nghèo và Vâng lời.
143. Trong Giáo hội có nhiều dòng tu không?
- Có rất nhiều dòng tu, mỗi dòng một vẻ khác nhau: Có đời ẩn tu khuất con mắt người đời như một lời giảng âm thầm; có các trinh nữ sống ngoài đời, gắn bó với Chúa Kitô cách không chia sẻ; có các trinh nữ sống trong đan viện, có các tu sĩ sống trong tu viện; có các tu sĩ sống trong xã hội gọi là tu hội đời, họ như men của tinh thần Chúa Kitô; sau cùng có những Hội có đời sống tông đồ, họ chung sống với nhau để làm chứng cho Chúa (915).
144. Tất cả các tu sĩ đều có nhiệm vụ gì?
- Trước hết họ sống Thánh thiện theo lời mình đã khấn, và đặc biệt lo viêc truyền Giáo theo cách thức mỗi dòng. Họ minh chứng sự thiện hảo của Nước Trời và quê hương đời sau (916).

SỰ HIỆP THÔNG (THÔNG CÔNG) CỦA CÁC THÁNH (THE COMMUNION OF SAINTS)
(GlCg92 từ số 946-975)

145. Sự hiệp thông của các Thánh có ý nghĩa gì?
- Có 2 ý nghĩa: 1/ Hiệp thông về các sự Thánh, và 2/ Hiệp thông giữa các vị Thánh.
146. Hiệp thông giữa các sự Thánh là gì?
- Là hiệp thông trong niềm tin, các Bí tích, các đặc sủng. Mọi sự làm của chung, hiệp thông trong đức Ái.
147. Hiệp thông giữa các vị Thánh là gì?
- Là nói lên 3 tình trạng của Giáo hội: a/ Các môn đệ Chúa còn đang sống trên mặt đất, b/ Các linh hồn trong luyện ngục, và c/ Các Thánh trên thiên đàng. Ba tình trạng trao đổi những lợi ích thiêng liêng, trong gia đình của Thiên Chúa.

* ĐỨC TRINH NỮ MARIA, MẸ CHÚA KITÔ, MẸ GIÁO HỘI (Mary, Mother of Christ, Mother of The Church)
(GlCg92 từ số 963-972)
148. Tại sao gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Giáo hội?
- Gọi là Mẹ Thiên Chúa vì Người sinh ra Chúa Kitô là Thiên Chúa, gọi là Mẹ Giáo hội vì qua đức Ái, Người sinh ra các tín hữu là chi thể của Chúa Kitô.
149. Vai trò của Đức Mẹ đối với Giáo hội xuất phát từ đâu?
- Từ việc Mẹ gắn liền với Chúa Kitô Cứu chuộc từ lúc cưu mang tới khi Ngài chết. Sau khi Chúa về trời, Mẹ đã trợ lực Giáo hội bằng lời cầu của mình.
150. Thiên Chúa đã thưởng Đức Mẹ những đặc ân gì?
- Đặc ân Vô nhiễm nguyên tội, Mẹ Thiên Chúa, Đồng trinh trọn đời, Hồn xác lên trời, và Nữ vương Vũ trụ.
151. Đức Mẹ là mẹ loài người chúng ta trong lãnh vực nào?
- Người là mẹ chúng ta trong lãnh vực ân sủng, sau khi về trời Người tiếp tục chuyển cầu cho ta, xin cho ta những hồng ân bảo đảm ơn cứu độ muôn đời.
152. Giáo hội chính thức kêu cầu Đức Mẹ dưới những danh hiệu nào?
- Giáo hội gọi Đức Mẹ là Đấng bênh vực (Advocate), Mẹ phù hộ (Helper), Mẹ Cứu giúp (Benefactress), Đấng Trung gian (Mediatrix).
153. Giáo hội có lòng tôn kính Đức Mẹ thế nào?
- Giáo hội tôn kính Đức Mẹ bằng phụng tự đặc biệt qua các lễ phụng vụ, qua kinh Mân côi được coi như tóm tắt toàn bộ Phúc âm.
Giáo hội chiêm ngắm nơi Đức Mẹ hình ảnh của chính Giáo hội hiện nay trên đường về nước Trời, và sau này nơi quê Trời, nơi đó Đức Mẹ đang chờ mong con cái Người.

TÔI TIN PHÉP THA TỘI
 (I believe in the Forgiveness of sins)
(Từ số 976-978)

154. Phép (Bí tích) Tha tội là phép nào?
- Là phép Rửa tội. Phép Rửa tội là Bí tích số một và chính yếu để ban ơn tha tội. Chính Chúa Kitô đã nói rõ: Ai tin và chịu Phép Rửa tội sẽ được cứu rỗi (Mc 16,16). Khi lãnh Phép Rửa tội, người ta được tha tội nguyên tổ, mọi tội riêng, và mọi hình phạt bởi tội.
155. Phép Rửa tội (Sacrament of Baptism) có làm cho ta không còn phạm tội được nữa không?
- Không. Phép Rửa tội không giải thoát con người khỏi những suy yếu của bản tính con người, vì thế, ta vẫn phải chiến đấu để chống lại những giao động của tình dục luôn kéo ta về sự ác.
156. Bí tích Rửa tội có là phương thế duy nhất để Giáo hội tha tội không?
- Không, ngoài Phép Rửa tội, Giáo hội còn có Bí tích Hòa giải để tha tội cho ta, cho ta hòa giải với Chúa và với Giáo hội.
157. Giáo hội có quyền tha tội, vậy Giáo hội tha được những tội nào?
- Không tội lỗi nào nặng nề đến đâu mà Giáo hội không thể tha thứ, miễn là tội nhân thành tâm ăn năn sám hối.
158. Giáo hội khuyên tội nhân trông cậy vào Phép Tha tội thế nào?
- Giáo hội khuyên những ai dạy Giáo lý phải khơi dậy nơi Giáo dân niềm trông cậy vào ơn lớn lao Chúa Kitô đã ban cho Giáo hội khi Ngài sống lại, đó là quyền tha thứ tội lỗi cho các tông đồ và các vị kế tiếp qua chức linh mục sau này trong Giáo hội (983).

TÔI TIN XÁC LOÀI NGƯỜI SẼ SỐNG LẠI
(I believe in the Resurrection of The Body)
(Từ số 988-1019)

159. Sống lại là gì?
- Sống lại là việc Thiên Chúa trả lại sự sống vĩnh viễn cho thân xác chúng ta khi cho xác kết hợp lại với linh hồn.
160. Ai sẽ sống lại?
- Mọi người lành và dữ, nhưng người đã làm lành sẽ sống lại để được sống mãi, người đã làm điều dữ sẽ sống lại để chịu án phạt đời đời.
161. Người ta sống lại như thế nào?
- Tất cả mọi người sẽ sống lại trong Chúa Kitô với thân xác mà họ hiện có bây giờ, nhưng thân xác này sẽ biến thành thân xác thiêng liêng.
162. Khi nào người ta sẽ sống lại?
- Người ta sẽ sống lại vào ngày tận thế, và sống mãi với Chúa Kitô.
163. Để sống mãi với Chúa Kitô, ta cần phải làm gì bây giờ?
- Phải chết với Chúa Kitô, nghĩa là phải sẵn sàng rời bỏ thân xác này mà ra đi, đó là khi linh hồn lìa khỏi xác.
164. Chết là gì?
- Chết là linh hồn lìa khỏi xác, là lúc tận cùng của cuộc sống ở trần gian, chết là hậu quả của tội lỗi.
165. Chúa Kitô đã biến đổi sự chết thế nào?
- Tuy run sợ khi đối diện với sự chết, nhưng Chúa Kitô đã can đảm hoàn toàn vâng phục Thánh Ý Chúa Cha. Sự vâng phục này đã biến đổi lời chúc dữ của cái chết thành lời chúc lành.
166. Đâu là ý nghĩa cái chết theo Công Giáo?
- Nhờ Chúa Kitô, cái chết của người Công Giáo có ý nghĩa như là mối lợi, vì hy vọng sẽ sống lại với Người để sống đời sống mới.
167. Chết rồi có "đầu thai" vào kiếp khác (return to other earthly life) không?
- Chết là tận cùng cuộc sống lữ hành của cuộc đời duy nhất, người ta chỉ chết một lần, không có sự đầu thai lại sau khi chết.
168. Giáo hội khuyên điều gì về sự chết?
- Giáo hội khuyên chuẩn bị cho giờ chết của mình. Phải sống sao như là sẽ chết hôm nay, để tránh tội lỗi, làm việc lành. Gắng đừng phạm tội hơn là tránh sự chết.

TÔI TIN CÓ SỰ SỐNG VĨNH CỬU
 (I believe in life everlasting)
(Từ số 1020-1065)

169. Những gì xảy ra sau khi chết?
- Sau khi chết người ta phải phán xét riêng, nghĩa là xét công tội tùy theo công việc và niềm tin của mỗi người.
170. Ai được nhận vào Thiên đàng (Heaven)?
- Ai chết trong ân sủng và ơn nghĩa Chúa (grace and friendship), và đã hoàn toàn được thanh tẩy (perfectly purified), sẽ sống muôn đời (live forever) với Chúa.
171. Nơi Thiên đàng, người lành hưởng phúc thế nào?
- Họ được thấy Chúa tận mặt, được sống trong sự sống và tình yêu với Chúa Ba ngôi, được thỏa những nguyện vọng sâu xa nhất của con người, đó là tình trạng hạnh phúc cao nhất và vĩnh viễn. Họ sống với Chúa Kitô, trong Chúa Kitô, nhưng họ vẫn giữ bản sắc và tên gọi của mình.
172. Trên Thiên đàng có những ai?
- Có Thiên Chúa Ba ngôi, Đức Mẹ Maria, các thiên thần, các Thánh.
173. Thiên đàng được nói qua những hình ảnh nào?
- Thiên đàng vượt quá mọi hiểu biết và biểu tượng. Thánh kinh nói về Thiên đàng qua những hình ảnh: sự sống, ánh sáng, bình an, tiệc cưới, rượu Nước Trời, nhà  Cha, thành Giêrusalem trên trời, thiên đàng, nơi mắt chưa thấy, tai chưa nghe, lòng trí chưa nghĩ tới, nơi Chúa dành sẵn cho ai yêu mến Ngài. (1027).
174. Luyện ngục (Purgatory) là gì?
- Luyện ngục là nơi những người chết trong ân sủng và tình nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy trọn vẹn, phải chịu sự thanh tẩy cuối cùng (final purification) hòng đạt sự Thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui thiên đàng.
175. Kinh Thánh nói gì về luyện ngục?
- Cựu Ước (2 Mcb 12, 46), Phúc âm theo Thánh Matthêô (Mt 12,31), thư Thánh Phaolô (1 Cr 3,15; 1 Pr 1,7) gián tiếp nói về luyện ngục.
176. Giáo hội Công Giáo nói gì về luyện ngục?
- Công đồng Florentia, Công đồng Trentô đã nói rõ ràng về luyện ngục. Giáo hội luôn khuyến khích Giáo dân dâng Thánh lễ, cầu nguyện, bố thí, hưởng ân xá, làm việc đền tội để giúp các người đã qua đời.
177. Hỏa ngục (Hell) là nơi nào?
- Hỏa ngục là nơi những kẻ chết trong tội trọng mà tự ý không sám hối, không đón nhận tình thương Chúa. Họ sẽ mãi mãi phải xa lìa Chúa và các Thánh trên trời.
178. Kinh Thánh có hay nói đến hỏa ngục không?
- Chúa Kitô nói rất nhiều lần: hỏa ngục, lửa không tắt, lửa muôn đời (Mt 5, 22-29; 10, 18; 13, 42-50).
179. Giáo hội dạy điều gì về hỏa ngục?
- Giáo hội xác định có hỏa ngục và hỏa ngục đời đời. Giáo hội kêu gọi tránh hỏa ngục bằng sám hối tội lỗi, đi vào đường hẹp, từ bỏ mình của Phúc âm, luôn tỉnh thức chờ Chúa đến.
180. Thiên Chúa có ấn định trước cho ai phải sa hỏa ngục không?
- Thiên Chúa không tiền định cho ai phải sa hỏa ngục, người ta sa hỏa ngục vì người ta phạm trọng tội (cố ý xoay lưng lại với Chúa) và cố chấp trong tình trạng này tới cùng (không sám hối).
181. Thế nào là phán xét chung?
- Là sự phơi bày tất cả những hậu quả sau cùng của những gì mà mỗi người đã làm tốt, hoặc đã bỏ qua không làm trong cuộc đời trần gian của mình.
Việc phán xét chung sẽ diễn ra vào lúc Chúa Kitô trở lại trong vinh quang. Ngài sẽ tách chiên ra khỏi dê. Những người công chính (chiên) sẽ ngự trị muôn đời với Chúa Kitô, họ được tôn vinh cả hồn lẫn xác.
182. Sau khi phán xét chung những gì sẽ xảy ra?
- Người công chính được đổi mới, vũ trụ cũng sẽ được đổi mới (trời mới đất mới). Trong vũ trụ mới này (Kh 21,5) sẽ không còn khóc lóc, kêu than, không còn sự chết.
Chúng ta không biết thời gian nào là thời gian Phán xét chung và đổi mới con người và vũ trụ.
Sứ điệp của việc Phán xét chung là lời kêu gọi hãy trở về với Thiên Chúa, trong khi Ngài còn ban cho người ta thời gian thuận tiện, thời gian cứu độ.

AMEN:
Trong tiếng Do thái, từ "Amen" có nghĩa là tin, là trung thành: Ta tin Chúa , Chúa trung thành với ta. Tiên tri Isaia gọi Chúa là "Thiên Chúa của Amen". Chúa Kitô là "Amen" (Kh 3, 14), Ngài là Amen của tình thương Chúa Cha dành cho ta. Nhờ Chúa Kitô, ta thưa Amen để tôn vinh Thiên Chúa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét