^ Scroll to Top

Giáo Lý Công Giáo Phần thứ hai Cử hành mầu nhiệm Kitô Giáo


http://xuanha.net
PHẦN THỨ HAI
 CỬ HÀNH MẦU NHIỆM KITÔ GIÁO

(The Celebration of the Christian mystery)
(GlCg92 từ số 1066-1690)

 

 183. Tại sao cần Phụng vụ (Liturgy)?
- Vì trong Phụng vụ, Giáo hội đặc biệt cử hành mầu nhiệm Phục sinh (Paschal mystery), nhờ đó Chúa Kitô thực hiện ơn cứu độ cho chúng ta (1067).
184. Chữ Phụng vụ nghĩa là gì?
- Theo gốc chữ có nghĩa là công vụ (public work), sự phục vụ của dân chúng, do dân chúng, trong phụng vụ Công Giáo, Chúa Kitô là đại tư tế (high priest), nhờ Giáo hội, Chúa tiếp tục việc cứu độ chúng ta (1069).
Khi cử hành phụng vụ, Giáo hội theo gương Chúa Kitô phục vụ mọi người qua vai tư tế (priesthood phụng tự), ngôn sứ (prophetic loan Tin Mừng) và vương giả (kingly Phục vụ bác ái).
185. Địa vị của Phụng vụ trong Giáo hội thế nào ?
- Phụng vụ không phải là tất cả hành động của Giáo hội. Đi trước phụng vụ là việc Phúc âm hóa , niềm tin và sự trở lại, sau đó Phụng vụ sẽ mang lại những hoa trái trong cuộc sống mới trong Chúa Thánh Thần của người tín hữu.
186. Phụng vụ với việc cầu nguyện (prayer)như thế nào?
- Phụng vụ cũng là sự tham dự vào việc cầu nguyện của Chúa Kitô. Tất cả các lời cầu nguyện trong Giáo hội đều bắt nguồn và kết thúc trong Phụng vụ.
187. Phụng vụ và việc dạy Giáo lý (catechesis) như thế nào?
- Phụng vụ là nơi thuận tiện nhất cho việc dạy Giáo lý cho dân Chúa. Chính nơi các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể, Chúa Kitô hành động cách sung mãn để hoán cải mọi người (1074).
Việc dạy Giáo lý nhắm dẫn người ta vào mầu nhiệm Chúa Kitô, bằng cách tiến từ cái hữu hình tới vô hình, từ biểu tượng đến thực tại, từ các bí tích đến mầu nhiệm. Việc dạy Giáo lý như thế thuộc phần vụ của các cuốn Giáo lý địa phương (1075).




Chương I

KẾ HOẠCH CÁC BÍ TÍCH
(The Sacramental Economy)
(GlCg92 từ số 1076-1690)




Đoạn I

MẦU NHIỆM PHỤC SINH
 TRONG CÁC BÍ TÍCH CỦA GIÁO HỘI

(The Paschal mystery within the Sacraments of the Church)

188. Địa vị Chúa Cha trong Phụng vụ (PV) thế nào (1077)?
- Chúa Cha là nguồn mạch (source) và cùng đích (goal) của PV. Chúa Cha chúc lành cho vạn vật. Con cái Chúc tụng Chúa Cha, thờ lạy, cảm tạ Đấng Tạo Thành Trời đất.
189. Địa vị Chúa Con trong PV thế nào (1084-90)?
- Chúa Kitô được tôn vinh. Ngài hành động qua các Bí tích được Ngài lập ra để thông ban ân sủng của Ngài.
Ngay từ thời đầu của Giáo hội, các Tông đồ Chúa đã trở thành những dấu hiệu Bí tích. Các Tông đồ đã trao quyền cho những người kế vị. Sự kế vị này (qua Bí tích Truyền chức) là cơ cấu của toàn bộ sinh hoạt PV Giáo hội.
Chúa Kitô luôn ở trong các hành động PV của Giáo hội, trong Thánh lễ và con người thừa tác viên, nhất là dưới hình bánh và rượu, bằng quyền lực Ngài trong các Bí tích đến nỗi khi ai làm phép rửa tội thì chính CKT làm phép Rửa tội. Ngài hiện diện bằng Lời của Ngài, Ngài nói khi ta đọc Kinh Thánh. Ngài hiện diện khi Giáo hội cầu nguyện và hát Thánh vịnh (1084).
Phụng vụ trần gian là việc dự phần vào PV trên trời.
190. Địa vị Chúa Thánh Thần trong PV thế nào (1091-1109)?
- Trong Giáo hội, Chúa Thánh thần chuẩn bị cộng đoàn gặp gỡ Chúa Kitô, nhắc lại và tỏ bày Chúa Kitô cho niềm tin của cộng đoàn, qua các Mùa Phụng vụ (mùa vọng, mùa Giáng sinh, mùa Chay, Mùa Phục sinh, mùa thường niên...) hiện tại hóa công cuộc cứu độ của Chúa Kitô bằng quyền năng biến hóa của mình và làm cho hồng ân hiệp thông sinh kết quả trong Giáo hội.
191. Các Bí tích của Chúa Kitô là gì?
- Là tất cả các Bí tích của luật mới mà Chúa Kitô đã thiết lập (1114).
192. Các Bí tích của Giáo hội là gì?
- Là do Giáo hội và cho Giáo hội, vì Chúa Kitô tác động trong Giáo hội, vì các bí tích này làm nên Giáo hội, nhất là Bí tích Thánh Thể (1118).
193. Các Bí tích của Đức tin là gì?
- Vì có mục đích Thánh hóa người ta, để nuôi dưỡng và bày tỏ đức tin bằng những lời nói và sự vật (1123).
194. Các Bí tích của ơn cứu độ là gì?
- Vì các Bí tích tác động do việc làm (ex opere operato) có sức cứu độ của công việc Chúa Kitô, chứ không do người làm Bí tích, tuy vậy hoa trái của Bí tích cũng tùy vào sự chuẩn bị của người lãnh nhận Bí tích ấy.
195. Bí tích của cuộc sống đời đời?
- Vì Bí tích loan báo trước vinh quang sau này.




Đoạn II

CỬ HÀNH MẦU NHIỆM VƯỢT QUA
(Celebration of the Paschal Mystery)
(1135-1209)

196.  Ai cử hành Bí tích ?
- Chúa Kitô là đại tư tế độc nhất của đền Thánh đích thực, Ngài là Đấng tế lễ và là của lễ (1136).
Người cử hành PV là toàn thể cộng đoàn, thân thể của Chúa Kitô. Hành vi PV không phải là hành vi riêng tư, nhưng là của Giáo hội, dân Thánh hfdỏ dưới quyền của Giám mục.
Để phục vụ việc cử hành Bí tích, có những thừa tác vụ riêng biệt tùy theo chức năng (functions), phần vụ của mình.
197. Cử hành Phụng vụ thế nào?(1145-62)
- Mỗi cử hành Bí tích đều có những dấu hiệu (signs) và biểu tượng (symbols).
Thiên Chúa nói với con người qua vũ trụ hữu hình.
Những dấu hiệu của giao ước nói lên những sự kiện trọng đại mà Thiên Chúa đã làm cho dân Người.
Chúa Kitô đã nhận những dấu hiệu của vũ trụ để giúp người ta hiểu những mầu nhiệm Nước Trời.
Các dấu hiệu của Bí tích được Chúa Thánh Thần dùng từ sau lễ Ngũ tuần để Thánh hóa người ta.
Phụng vụ Lời Chúa là thành phần tất yếu của các cử hành phụng vụ. Lời Chúa cần được đọc rõ ràng và dễ hiểu (1154).
Ca và nhạc cũng trở thành thành phần tất yếu của Phụng vụ trọng thể. Chúng nâng cao vẻ đẹp của việc cầu nguyện, giúp cộng đoàn cùng tham dự vào những chỗ đã dự trù, có tính cách trọng thể (1156-75).
Các ảnh tượng Thánh cốt yếu họa lại hình ảnh Chúa Kitô. Sự nhập thể của Con Thiên Chúa đã mở ra kế hoạch mới về hình ảnh Thánh (1159).
Các ảnh tượng về Mẹ Thiên Chúa và các Thánh cho thấy Chúa Kitô được tôn vinh nơi các Ngài.
198. Cử hành Phụng vụ khi nào?(1163-78)
- Ngày của Chúa: Trong suốt cả năm Phụng vụ, hàng tuần, Chúa nhật, đó là Ngày Của Chúa, ngày Chúa Phục sinh. Ngày Chúa nhật là ngày của cộng đoàn Phụng vụ hơn hết, ngày các tín hữu hfdỏ nhau nghe Lời Chúa và tham dự Thánh lễ.
- Năm Phụng vụ là năm ân sủng... Lễ Phục sinh là Lễ của các lễ., lễ trọng trên hết các lễ trọng..
- Phần kính Thánh trong Năm Phụng vụ (1172) đặc biệt tôn kính Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa  vì đã kết hợp chặt chẽ với Con Mình trong cuộc cứu chuộc, các Thánh tử đạo, các Thánh khác đã chịu đau khổ với Chúa Kitô.
- Phụng vụ các giờ kinh. Đây là việc cầu nguyện chung của Giáo hội.PV giờ kinh thực sự là tiếng nói của Hiền thê nói với Hôn phu là Chúa Kitô. PV giờ kinh được coi như việc nối dài cử hành Thánh lễ (1174-78).
199. Phụng vụ cử hành ở đâu? (1179-86)
- Trong những ngôi Thánh đường, nhà  của Thiên Chúa.
Bàn thờ là Thập giá của Chúa Kitô.
Nhà Tạm là nơi Chúa Kitô hiện diện thật sự.
Dầu Thánh là dấu ấn của sự ban Thánh thần.
Ghế ngồi của Giám mục là của chủ tọa cuộc tập hfdỏ và hướng dẫn việc cầu nguyện.
Tòa đọc Sách Thánh là nơi các tín hữu hướng về khi cử hành Lời Chúa.
Giếng Rửa tội, giúp nhớ lại phép Rửa đã lãnh nhận.
Tòa giải tội, nơi tín hữu đón nhận ơn thống hối.
Nhà thờ cũng phải là nơi mời gọi người ta hồi tâm, âm thầm cầu nguyện nối tiếp Thánh lễ. Nhà thờ là nhà  của tất cả các con cái Thiên Chúa , luôn mở rộng để đón tiếp mọi người.
200. Phụng vụ Giáo hội có được phù hợp với các nền Văn hóa mỗi dân tộc không? (1204-06)
- Việc cử hành PV phải phù hợp với tinh thần và văn hóa của các dân tộc khác nhau, hầu đưa họ tới sự vâng phục đức tin (Rm 12, 26).
Trong PV có một phần không thể thay đổi, vì do Thiên Chúa thiết lập mà Giáo hội canh giữ (1205); có những phần có thể thay đổi mà Giáo hội có quyền đôi khi có bổn phận thích nghi với nền văn hóa của dân tộc được Phúc âm hóa.
Sư đa dạng của PV là nguồn mạch phong phú, nhưng cũng có thể đưa đến tổn thương cho tính cách hiệp nhất.
Sự thích nghi với các nền văn hóa  đòi phải có hoán cải tâm hồn và nếu cần đòi đoạn tuyệt với tập tục không phù hợp với đức tin Công Giáo (1206).




Chương II

BẢY BÍ TÍCH CỦA GIÁO HỘI
(The Seven Sacraments of The Church)
(1210-1666)

Bí tích của Tân Ước có 7, do Chúa Kitô thiết lập. Bảy Bí tích liên quan đến các giai đoạn của cuộc sống tư nhiên và cuộc sống siêu nhiên (thiêng liêng) của con người, từ khi sinh ra, tăng trưởng, được chữa lành, được trao sứ mạng để sống niềm tin tới khi qua đời.


Đoạn I
CÁC BÍ TÍCH GIA NHẬP GIÁO HỘI
(The Sacraments of Christian Initiation)
(1212-1419)

I. BÍ TÍCH RỬA TỘI
(Sacrament of Baptism)
(1113)
201. Bí Tích Rửa tội quan trọng thế nào trong đời sống Kitô Giáo?.
- Là nền tảng của tất cả cuộc sống Kitô Giáo (1213).
202. Bí tích Rửa tội ban ơn gì?
- Nhờ Bí tích Rửa tội, ta được giải thoát khỏi tội lỗi, được sinh lại làm con Chúa, được trở thành các chi thể của Chúa Kitô, được gia nhập vào thân thể Giáo hội và tham dự vào sứ mạng của Giáo hội.
203. Phép Rửa tội còn được gọi là gì?
- Là thanh tẩy, ngụp lặn trong nước, tắm rửa để được tái sinh trong Chúa Thánh Thần, được soi sáng trong tâm hồn.
204. Trong Kinh Thánh Cựu Ước có hình bóng nào nói về Phép Rửa tội?
- Từ khi tạo dựng trời đất, nước là nguồn mạch sự sống; tầu ông Noe trong nước hồng thủy; vượt qua biển đỏ, vượt qua sông Giođan vào đất hứa.
205. Chúa Kitô hướng về Bí tích Rửa tội thế nào?
- Khi Ngài xuống sông Giođan để ông Gioan làm phép rửa, và khi Phục sinh, Ngài mở ra cho mọi người những nguồn mạch của phép Rửa tội (1222).
206. Ai có thể lãnh nhận Phép Rửa tội?
- Bất cứ ai chưa lãnh phép này (1246).
207. Phép Rửa tội người lớn?
- Từ hồi đầu Giáo hội đã ban Phép Rửa tội cho người lớn, đây là tình trạng thông thường ở những nơi Phúc âm được rao giảng. Ngày nay việc gia nhập Kitô Giáo cho người lớn bắt đầu từ khi họ bước vào thời gian dự tòng rồi cuối cùng lãnh Bí tích Rửa tội, Thêm sức và Thánh Thể như là đỉnh chót của thời dự tòng (1247).
Thời gian Dự tòng là thời gian đào  tạo để sống đời Kitô hữu toàn diện. Mẹ Giáo hội ấp ủ họ như con cái của mình trong tình thương và chăm lo cho họ.
208. Có cần rửa tội cho trẻ em không?
- Cần, vì việc rửa tội cho trẻ em đã trở thành thói quen tốt lành phổ biến trong Giáo hội (1250). Giáo hội và cha mẹ em nhỏ sẽ làm em thiệt mất ân sủng vô giá là trở thành con Thiên Chúa, nếu không lo rửa tội cho em ít lâu sau khi sinh ra.
209. Có cần cha mẹ đỡ đầu (godfather, godmother) không?
- Có, vì Phép Rửa tội là Bí tích của đức tin, đức tin đây là đức tin khởi đầu cần được phát triển. Vai trò của cha mẹ đỡ đầu, họ phải là những người có đức tin vững mạnh, có khả năng và sẵn sàng giúp đỡ người mới lãnh nhận phép Rửa tội.
210. Ai có thể rửa tội?
- Thừa tác viên thường lệ là Giám mục, linh mục, các phó tế. Trường hợp khẩn cấp, bất cứ ai cũng có thể rửa (kể cả người ngoài Công Giáo), miễn là làm như Giáo hội dạy (1256).
211. Không lãnh rửa tội có được cứu rỗi không?
- Những người chịu chết vì đức tin khi chưa được chịu Bí tích Rửa tội, thì coi  như đã được chịu Bí tích Rửa tội do sự chết của họ. Bí tích Rửa tội bằng Máu (chết vì tin Chúa) cũng như phép Rửa tội bằng lòng ước ao, tuy không là Bí tích, nhưng mang lại tất cả các hoa trái của phép này (1257).
Đối với người dự tòng chết khi chưa được rửa tội, thì lòng ao ước tỏ tường được rửa tội và sự sám hối tội lỗi cùng với đức ái của họ sẽ bảo đảm ơn cứu độ cho họ, tuy không phải là Bí tích.
Trẻ nhỏ chết không được rửa tội, Giáo hội chỉ còn biết phó thác các em cho lượng từ bi Chúa. Chúa nhân từ muốn mọi người được cứu rỗi (1 Tm 2, 4). Điều này cho phép ta hy vọng có một con đường cứu độ cho các trẻ em chết khi chưa được rửa tội. Nhân đó Giáo hội càng khẩn thiết kêu gọi đừng cản trở việc trẻ em đến với Chúa Kitô qua hồng ân của Bí tích Rửa tội.
212. Những nghi lễ khi cử hành Phép Rửa tội?
- Dấu Thánh giá được ghi lúc bắt đầu cử hành nghi lễ, sau đó loan báo Lời Chúa, tuyên xưng đức tin, Thánh hiến nước Rửa tội, Rửa tội là nghi thức chủ yếu, xức dầu Thánh, mặc y phục trắng, đọc kinh Lạy Cha, chúc lành trọng thể.
213. Hiệu quả của phép Rửa tội?
- Hai hiệu quả chính của phép Rửa tội là rửa sạch tội lỗi, và cuộc sống mới trong Chúa Thánh Thần (1262).
- Tha tội lỗi dù nguyên tội, dù tội riêng và tất cả hình phạt. Tuy nhiên những hậu quả của tội vẫn tồn tại như đau khổ, bệnh tật, sự chết, những yếu đuối gắn liền với sự sống như tính yếu đuối...nhất là những hướng chiều về tội, thường gọi là tình dục, nên ta phải chiến đấu nhờ ân sủng Chúa, để được phần thưởng (2 Tm 2,5).
- Cuộc sống mới là tạo vật mới (2 Cr 5,17) trở thành con Chúa (Gl 4, 5-7) thông phần bản tính thần linh (2 Pr 1, 4), trở thành chi thể của Chúa Kitô, được hưởng gia tài của Ngài (Rm 8, 17) là Đền thờ Chúa Thánh Thần (1 Cv 6, 15). Chúa Thánh Thần ban ơn Thánh hóa để người này được khả năng tin cậy mến, hành động dưới các ơn Chúa Thánh Thần, tăng trưởng trong sự lành nhờ các đức luân lý.
- Nhập vào Thân thể Giáo hội là Nhiệm thể Chúa Kitô. Trở thành những viên đá sống xây Giáo hội, cho người ta dự phần vào chức tư tế chung của các tín hữu.
- Phép Rửa tội cũng sinh ra các bổn phận và những quyền lợi trong Giáo hội. Người được rửa tội phải tham gia vào hoạt động tông đồ và truyền Giáo của Giáo hội (1270).
- Phép Rửa tội là mối liên kết Bí tích của sự hiệp nhất giữa những người đã được tái sinh bởi Bí tích Rửa tội.
- Phép Rửa tội sinh một dấu ấn thiêng liêng (character) không thể tẩy xóa, dấu ấn do Thánh Thần ghi trên ta cho ngày cứu chuộc. Ai giữ mãi dấu ấn này sẽ được kết thúc trong niềm hy vọng sống lại vinh quang.

II. BÍ TÍCH THÊM SỨC
(Sacrament of Confirmation)
(1285)

214. Vị trí của Bí tích Thêm sức trong kế hoạch ơn cứu rỗi thế nào? (1285)
- Từ trong Cựu Ước các tiên tri đã loan báo Thần linh Chúa sẽ xuống trên Đấng Messia.
Trong Tân Ước, nhiều lần Chúa Kitô đã hứa ban Thánh Linh.
Việc đặt tay của các Tông đồ là nguồn gốc Bí tích Thêm sức. Bí tích Thêm sức hoàn tất Bí tích Rửa tội, bổ túc cho việc gia nhập Công Giáo.
215. Những dấu hiệu và nghi thức (signs and rites) của Bí tích Thêm sức thế nào? (1293)
- Cần để ý tới dấu hiệu của việc xức dầu, ý nghĩa việc xức dầu tức là dấu ấn thiêng liêng (a spiritual seal).
216. Xức dầu có ý nghĩa gì?
- Xức dầu có ý nghĩa trù phú (abundance ), niềm vui, thanh tẩy, làm cho dẻo dai, chữa lành, xinh đẹp, khỏe mạnh. Xức dầu sau khi rửa tội, thêm sức, truyền chức Thánh là dấu hiệu Thánh hiến.
- Dấu ấn là biểu tượng con người, uy quyền, thuộc về. Dấu ấn thêm sức chỉ ta hoàn toàn thuộc về Chúa Kitô, được hiến dâng mãi mãi để thuộc về Ngài, phụng sự Ngài, được hứa bảo vệ qua cơn thử thách lớn lao ngày tận thế.
217. Cử hành Thêm sức thế nào?
- Đức Giám mục giơ cao tay kêu cầu Thánh Linh, Xức dầu Thánh trên trán là nghi thức chính yếu, đọc công thức, đặt tay, chúc bình an.
218. Hiệu quả của Bí tích Thêm sức là gì? (effects)
- Chúa Thánh Thần được ban xuống đầy tràn: tăng trưởng ơn Phép Rửa tội, tăng tình con Chúa, kết hợp khăng khít hơn với Chúa Kitô, tăng liên lạc với Giáo hội, ban sức mạnh đặc biệt của Thánh Linh để ta trở thành Chứng nhân (witness) của Chúa Kitô.
Bí tích Thêm sức chỉ ban một lần.
219. Ai được lãnh Bí tích thêm sức?
- Tất cả những ai đã lãnh Bí tích Rửa tội, đã tới tuổi biết "Phân biệt lành dữ"(the age of discretion) đều được lãnh Bí tích Thêm sức; dù trẻ em dưới tuổi phân biệt lành dữ, nếu nguy tử (danger of death), cũng được lãnh Phép này.
220. Muốn lãnh Bí tích Thêm sức phải chuẩn bị làm sao?
Phải học Giáo lý về Giáo hội Chúa Kitô, Giáo hội hoàn vũ và Giáo hội địa phương, trắch nhiệm tông đồ của người tín hữu. Bí tích này cũng cần có người đỡ đầu (sponsor) như Bí tích Rửa tội. Có thể tìm cùng một người cho cả hai Bí tích để giữ tính cách thống nhất của hai Bí tích này.
Để lãnh Bí tích Thêm sức, phải ở trong tình trạng ân sủng (state of grace), nên thanh tẩy tâm hồn bằng Bí tích Hòa giải để nhận ơn Thánh linh, phải cầu nguyện tha thiết hơn xin ơn dễ dạy và sẵn sàng hành động (1310).
221. Thừa tác viên của Bí tích Thêm sức là ai?
- Thừa tác viên của Bí tích Thêm sức là Đức Giám mục. Vì những lý do nghiêm trọng, Ngài có thể ủy quyền cho các linh mục ban phép này.
Nếu Kitô hữu nguy tử (danger of death), bất cứ linh mục nào cũng được ban Bí tích Thêm sức cho họ. Giáo hội muốn con cái mình khi lìa đời được kiện toàn hồng ân đầy đủ của Chúa Kitô (1314).

III. BÍ TÍCH THÁNH THỂ
(Sacrament of The Eucharist)
(1322)

222. Địa vị của Bí tích Thánh Thể?
- Bí tích Thánh Thể hoàn tất việc gia nhập Kitô Giáo, cho người tân tòng tham dự vào lễ hi sinh của Chúa cùng với tất cả cộng đoàn (1322).
Chúa Kitô đã lập Bí tích Thánh Thể vào bữa ăn tối sau cùng (1323).
Thánh Thể là nguồn mạch và đỉnh cao của sinh hoạt Giáo hội.
Thánh Thể nói lên sự hiệp thông vào sự sống Thiên Chúa và sự hiệp nhất của dân Thiên Chúa (1325).
223. Bí tích Thánh Thể còn được gọi bằng tên gì khác?
- Còn được gọi là lễ Tạ ơn (eucharistia), Bữa ăn của Chúa, Bữa Tiệc ly,Tiệc cưới Chiên Con, Sự bẻ bánh, Tập hfdỏ Thánh Thể, Lễ tưởng niệm, Hy lễ Thánh, Phụng vụ Thánh thiện và Thần linh, Hiệp lễ (rước lễ), Thánh lễ (misa) kết thúc bằng sự sai đi (missio) để các tín hữu làm trọn ý Chúa trong cuộc sống hằng ngày (1328-32).
224. Thánh Thể trong kế hoạch cứu độ thế nào?
- Trong Giao Ước cũ, bánh rượu được kính dâng lên cùng với các hoa trái đầu mùa khác để cảm tạ Thiên Chúa. Kỷ niệm về Manna luôn nhắc cho dân Israel nhớ mình sống bằng bánh Lời Chúa. Những phép lạ bánh hóa nhiều là hình bóng báo trước Thánh Thể. Sau cùng, Chúa Kitô đã lập Thánh Thể để tưởng niệm sự chết và sống lại của Người: Anh em hãy làm việc này để nhớ đến Thầy (1334-40).
225. Việc cử hành Phụng vụ Thánh Thể qua thời gian thế nào?
- Từ thế kỷ 2, Thánh Giuttinô đã ghi lại những gì Kitô hữu đã làm để cử hành Phụng vụ Thánh Thể: Giáo dân tập hfdỏ vào ngày Mặt trời (Chúa nhật), đọc Sách ký sự các Tông đồ, chủ tọa khuyên nhủ, Giáo dân cầu nguyện, chúc bình an, dâng lễ vật, chủ tế chúc tụng, phó tế phân phát bánh rượu cho người hiện diện và đem về cho người vắng mặt. Ngày nay vẫn giữ lại thứ tự các phần như trên, qui vào 2 phần chính: Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể (1345).
226. Chúa Kitô hiện diện trong Phép Thánh Thể cách nào?
- Trong Bí tích rất Thánh này có chứa đựng Mình và Máu Chúa Kitô cách thật sự, cách hiện thực và cách bản thể, cùng với linh hồn và thiên tính của chúa Giêsu Kitô, và như vậy là có Chúa Kitô toàn vẹn (1374)
Công đồng Trentô đã tóm tắt đức tin của Giáo hội khi tuyên bố rằng:" Bởi vì Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã nói rằng hình bánh mà Ngài dâng lên chính là Mình Ngài, cho nên trong Giáo hội người ta luôn xác tín điều đó và là điều được Thánh Công đồng lại tuyên bố như sau: Qua việc Thánh hiến tấm bánh và ly rượu, có sự thay đổi tất cả bản thể của bánh thành bản thể của Thân Thể Chúa Kitô, và tất cả bản thể của rượu được đổi thành bản thể Máu Thánh Ngài: Giáo hội Công Giáo gọi sự biến đổi này cách rất đúng và chính xác là "biến bản thể"( transubstantiation) (1376).
Sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh Thể bắt đầu từ lúc Thánh hiến (consecration) và kéo dài bao lâu còn tồn tại hình bánh và hình rượu Thánh Thể. Chúa Kitô hiện diện toàn thân nơi nơi mỗi hình (species) rượu và hình bánh, cũng như nơi mỗi phần của bánh và rượu, thành thử sự bẻ bánh không phân chia chúa Kitô (1377)
227. Giáo hội tôn thờ Thánh Thể Chúa thế nào?
- Trong Thánh lễ, ta tôn kính Chúa trong Thánh Thể bằng nhiều cách: bái gối, cúi mình sâu; ngoài Thánh lễ, Giáo hội giữ Mình Thánh trong Nh3/4 Tạm, chầu Thánh Thể, và Kiệu Thánh Thể (1378).
228. Giáo dân Rước lễ (Hiệp lễ) như thế nào?
- Để dọn mình cách xứng đáng, trước khi lãnh nhận Bí tích Thánh Thể, Giáo dân sẽ giữ chay, cách mặc y phục, cách lên rước Thánh Thể phải nói lên sự tôn kính, vẻ long trọng và niềm vui của giây phút khi Chúa Kitô trở nên vị Khách của ta (1387).
Theo ý nghĩa của Phép Thánh Thể, Giáo dân nên rước lễ mỗi khi dự Thánh lễ, nếu được chuẩn bị đầy đủ (1388).
Giáo hội buộn tín hữu phải tham dự phụng vụ các ngày Chúa nhật và các ngày lễ trọng. Rước lễ ít nhất mỗi năm một lần, nếu có thể, Rước lễ trong Mùa Phục sinh, sau khi đã lãnh Bí tích Hòa giải. Giáo hội khuyên tín hữu rước lễ siêng năng hơn, ngay cả hằng ngày (1389).
229. Các hoa trái của Rước lễ?
- Gia tăng sự kết hợp giữa ta với Chúa Kitô, - Giúp ta tránh tội lỗi, - Ngăn ngừa ta khỏi phạm tội trọng, - Hiệp nhất với nhau trong Thân thể Chúa Kitô.
Phép Thánh Thể là thuốc giải độc cứu thoát ta khỏi tội thường ngày và giữ gìn ta khỏi sa phạm các tội trọng (1436).
230. Không phải là người Công Giáo có được rước lễ không?
- Khi có nhu cầu khẩn cấp, tùy Đấng Bản quyền, thừa tác viên Công Giáo có thể ban các Bí tích Thánh Thể, Sám hối, Xức dầu, cho những tín hữu không hiệp thông đầy đủ với Giáo hội, nếu họ tự ý xin, họ phải bày tỏ đức tin công Giáo đối với các Bí tích này và được chuẩn bị đầy đủ (1401).
231. Thánh Thể bảo chứng sự sống vinh quang đời sau?
- Thánh Thể cũng là sự hưởng trước vinh quang sau này ở trên trời. Là thuốc trừ độc để khỏi chết, và để sống muôn đời trong Chúa Kitô (1402- 05).


Đoạn II
CÁC BÍ TÍCH CHỮA LÀNH
 (The Sacraments of  Healing)
(1420-1532)

I. BÍ TÍCH HÒA GIẢI
(Sacrament of Penance and Reconciliation)

Bị chi phối bởi đau khổ, bệnh tật và sự chết. Cuộc sống mới của con Chúa có thể bị yếu đi và còn có thể bị mất do tội lỗi (1420)
232. Bí tích Hòa giải còn được gọi bằng những tên gì?
- Được gọi là Bí tích của sự trở lại, Bí tích Sám hối, Xưng tội, Bí tích ơn tha thứ.
233. Tại sao cần Bí tích Hòa giải sau Bí tích Rửa tội?
- Khi nhập Kitô Giáo, sự mong manh và yếu đuối của bản tính loài người vẫn còn, nhục dục vẫn tồn tại.
Chúa Kitô kêu gọi sám hối tội lỗi. Sự trở lại thứ hai này là công tác liên lỉ. Giáo hội Thánh thiện, nhưng mang tội nhân trong mình, nên cần tự thanh tẩy.
Chúa Kitô kêu gọi sự sám hối nội tâm, thiếu từ nội tâm, sự sám hối sẽ giả dối, không hiệu quả.
234. Những hình thức sám hối?
- Các Giáo phụ (fathers) đã đề ra 3 việc là : Ăn chay, cầu nguyện và bố thí (chia sẻ của cải).
235. Thời gian và ngày sám hối hối ?
- Mùa Chay, các ngày thứ sáu để kính nhớ sự chết của Chúa, là những thời gian để Giáo hội thực hành việc sám hối, phụng vụ sám hối, hành hương tỏ lòng sám hối, tự bớt ăn bớt tiêu, ăn chay, bố thí, chia sẻ của cải, làm việc bác ái, truyền Giáo).
236. Tội phạm đến ai?
- Tội phạm đến Thiên Chúa, cắt đứt hiệp thông với Chúa và Giáo hội.
237. Ai có quyền tha tội?
- Chỉ mình Thiên Chúa có quyền tha tội, Chúa Kitô đã ban quyền này cho các thừa tác viên để họ tha tội nhân Danh Chúa (1441).
238. Hòa giải với Chúa và với ai?
- Hòa giải với Chúa và Giáo hội của Chúa là việc không thể tách rời.
239. Bí tích Hòa giải cần cho ai?
- Cần cho những ai sau khi rửa tội đã ngã vào tội trọng (đánh mất ân sủng của Phép Rửa tội, gây tổn thương cho sự hiệp thông với Giáo hội). Bí tích này là tấm ván cứu vớt thứ hai sau khi bị đắm tầu (mất ân sủng).
240. Bí tích Hòa giải diễn biến thế nào?
- Thời ban đầu, các hối nhân phải làm việc đền tội công khai, mãi thế kỉ thứ 7, các nhà  thừa sai người Ireland đem vào Âu châu việc xưng tội riêng.
241. Đâu là yếu tố căn bản của Bí tích Hòa giải?
- Hai yếu tố căn bản là hành vi của con người trở lại (thống hối, ăn năn, thú nhận và đền bù), và hành động của Thiên Chúa (tha thứ qua Giáo hội, ấn định cách đền bù).
242. Đâu là những hành vi cần chuẩn bị của của hối nhân?
- Xét lương tâm (các giới răn, Giáo huấn luân lý của Phúc âm, thư các tông đồ, bài giảng tám mối, Sách Giáo huấn của các tông đồ).
Thống hối ăn năn, đau đớn ghét tội. Ăn năn tội (sám hối) chia 2 thứ: - Cách trọn hảo (khi ăn năn vì lòng yêu mến Chúa trên hết mọi sự); cách này tha thứ các tội nhẹ và các tội trọng nếu kèm theo quyết tâm đi xưng tội ngay khi có thể. - Cách không trọn hảo (khi ăn năn vì tội xấu xa, vì sợ hình phạt hỏa ngục); cách này không tha tội trọng, nhưng giúp đón nhận ơn tha thứ trong Bí tích Giải tội (1452).
Thú nhận tội lỗi với linh mục. Phải kể hết các tội trọng.
Luật Giáo hội buộc xưng một năm một lần. Ai phạm tội trọng không được Rước Thánh Thể, nếu không xưng tội trước, trừ khi có lí do nghiêm trọng để rước lễ và không gặp cha giải tội.
Các em nhỏ phải lãnh Bí tích Hòa giải trước khi rước lễ lần đầu.
Giáo hội mạnh mẽ khuyến khích xưng tội nhẹ, việc này giúp đào  tạo lương tâm, chống lại khuynh hướng xấu, để Chúa Kitô chữa lành ta, giúp ta tiến bộ trong đời sống thiêng liêng.
Việc đền tội, trả lại những gì đã ăn trộm, phục hồi thanh danh cho người mình đã vu khống, bồi thường thương tích đã gây nên. Việc đền tội sẽ chú ý tới hoàn cảnh bản thân của hối nhân, và nhắm ích thiêng liêng cho người đó, phù hợp theo mức độ có thể theo sự nặng nề và tính chất tội phạm. Có thể là đọc kinh, đóng góp từ thiện, phục vụ anh em, tự nguyện bớt ăn tiêu, hi sinh, kiên nhẫn chấp nhận thập giá hàng ngày của mình.
243. Thừa tác viên của Bí tích Hòa giải là những ai? (1461-)
- Là các Giám mục và linh mục có quyền tha tội nhân Danh Chúa Cha, Con và Thánh Thần. Khi có nguy tử, bất cứ linh mục nào, dù không có quyền cũng được giải các thứ tội và các vạ tuyệt thông.
Các linh mục phải khuyến khích tín hữu tới lãnh nhận Bí tích Hòa giải, và sẵn sàng ban Bí tích này khi Giáo dân xin.
Linh mục là dấu hiệu và dụng cụ của tình thương từ bi Thiên Chúa đối với tội nhân. Ngài phải tỏ ra tế nhị, kính trọng những kẻ sa ngã, nhẫn nại hướng dẫn hối nhân tới sự chữa lành, Ngài phải cầu nguyện và sám hối với tội nhân để đưa họ về cùng Chúa từ bi.
Linh mục phải tuyệt đối giữ bí mật, không được dựa vào những điều biết trong tòa giải tội mà đưa vào đời sống. Đây là dấu ấn Bí tích (sacramental seal) không có ngoại trừ.
244. Hiệu quả của Bí tích Hòa giải? (1468-70)
- Sau khi hòa giải, hối nhân được bình an lương tâm, an ủi thiêng liêng, phục sinh tinh thần, phục hồi tình con Chúa. Hòa giải với Giáo hội, thêm sức sống cho Giáo hội,, hòa giải với bản thân mình,, với anh em mình, với vạn vật. Khi trở về với Chúa kitô, tội nhân đi từ sự chết qua sự sống và người đó sẽ không bị phán xét (Ga 5,24).
245. Các Ân xá? (1471-)
- Ân xá (ơn tha) là ơn Giáo hội ban nhờ công nghiệp Chúa Kitô, Đức Mẹ và các Thánh để tha hình phạt đi kèm với tội phạm, dù tội đã được tha.
Có ơn Đại xá (tha hết mọi hình phạt), có ơn Tiểu xá (tha một phần). Ân xá có thể chỉ cho người còn sống hoặc người đã qua đời.
Nhờ kho tàng ơn Thánh của Giáo hội, của Chúa Kitô, Đức Mẹ, các Thánh trong mầu nhiệm hiệp thông, các tín hữu lãnh được ân xá cho mình và cho các linh hồn luyện ngục để giải thoát những hình phạt tạm họ phải đền bù về tội lỗi đã được tha.
246. Cử hành Bí tích Hòa giải (1480-84)
- Khi cộng đoàn cử hành, phụng vụ sẽ gồm: Phụng vụ lời Chúa, diễn giảng, xét mình, cầu xin tha thứ, kinh Lạy Cha, xưng tội cá nhân.
Trường hợp khẩn trương (nguy tử, số người xưng quá đông, tùy thẩm quyền Giám mục), có thể xưng tội tập thể, miễn là có quyết tâm xưng tội trọng riêng khi thuận tiện.

II. BÍ TÍCH XỨC DẦU BỆNH NHÂN
(Sacrament of The Anointing of the sick)
 (1499- 1532)

247. Vị trí của Bí tích Xức dầu Bệnh nhân trong kế hoạch ơn cứu độ thế nào?
- Bệnh tật là vấn đề nghiêm trọng nhất, thử thách con người. Bệnh tật có thể dẫn tới lo âu, khép kín mình lại, đôi khi dẫn đến tuyệt vọng và chống đối Thiên Chúa. Bệnh tật cũng làm cho con người chín chắn hơn, giúp con người phân biệt cái chính trong đời mà tìm về cùng Thiên Chúa.
248. Chúa Kitô với bệnh tật thế nào?
- Chúa cảm thương và chữa lành bệnh tật đủ loại. Ngài đồng hóa với người bệnh (Mt 25,36). Trong các Bí tích, Chúa Kitô tiếp tục "đụng chạm" đến chúng ta để chữa cho lành.
Các môn đệ Chúa cũng được sai đi rao giảng sự sám hối, trừ ma quỉ, xức dầu, chữa lành bệnh nhân (Mc 6, 12).
Những lời cầu nguyện tha thiết nhất cũng xin được ơn chữa lành (2 Cr 12, 9).
Sự đau khổ của ta có thể góp phần vào ơn cứu chuộc (Cl 1,24).
Giáo hội tuyên xưng có Bí tích dành để thêm sức cho các bệnh nhân. Bí tích này Thánh Marcô nhắc tới (Mc 6, 13) và Thánh Giacôbê công bố (Gc 5,14).
249. Ai được lãnh Bí tích Xức dầu Bệnh nhân, lãnh khi nào?
- Bí tích Xức dầu Bệnh nhân không phải là bí tích của những người sắp chết. Khi tín hữu có cơ nguy tử do bệnh tật, vì thể xác yếu dần đi, hoặc vì tuổi già.
Nếu bệnh nhân đã được xức dầu, rồi khỏe lại, sau đó lại ngã bệnh nặng, có thể xin xức dầu lần nữa. Trong cùng thời gian trọng bệnh, dù đã được xức dầu, nếu bệnh tình trở nên nguy kịch hơn, cũng được xin xức dầu nữa.
Nên nhận xức dầu trước khi chịu giải phẫu nghiêm trọng.
Người già cả, với sự yếu đuối gia tăng, nên lãnh Bí tích này.
250. Ai được ban Bí tích Xức dầu?
- Chỉ có các Giám mục và linh mục mới được ban Bí tích Xức dầu Bệnh nhân.
Các chủ chăn có bổn phận Giáo huấn các tín hữu về ơn ích của Bí tích này.
Các tín hữu hãy khuyến khích các bệnh nhân đi mời linh mục tới xức dầu.
Các bệnh nhân hãy chuẩn bị tâm tình tốt lành để nhận Bí tích này.
251. Cử hành Bí tích Xức dầu Bệnh nhân thế nào?
- Cũng như các Bí tích khác, Bí tích Xức dầu là sự cử hành phụng vụ và có tính cách cộng đoàn, dù cử hành tại gia đình, bệnh viện hoặc nhà  thờ cho riêng một bệnh nhân. Rất nên cử hành trong Thánh lễ, tưởng niệm cuộc vượt qua của Chúa Kitô, có Bí tích Sám hối đi trước, tiếp theo là Bí tích Thánh Thể. Thánh Thể là của ăn đàng bước qua cuộc sống vĩnh cửu.
252. Hiệu quả của Bí tích Xức dầu Bệnh nhân ?
- Bí tích Xức dầu bệnh nhân ban ơn an ủi, ơn bình an và ơn can đảm vượt qua những khó khăn bệnh tật hoặc tuổi già, giúp ta tin kính Thiên Chúa, thêm sức mạnh để ta chống những cán dỗ của ma quỉ, cám dỗ tuyệt vọng và lo âu trước cái chết, được chữa lành phần hồn, có thể về phần xác nữa, nếu Chúa muốn. Nếu bệnh nhân phạm các tội thì sẽ được tha thứ (Gc 5, 15). Được kết hợp cách mật thiết hơn sự đau khổ mình với sự đau khổ của Chúa Kitô.
253. Của ăn đàng có ý nghĩa gì?
- Thánh Thể Chúa Kitô là của ăn đàng cho người đang đi vào cuộc sống vĩnh cửu, Ai ăn thịt Ta... sẽ được sống đời đời (Ga 16, 54). Bí tích Giải tội, Xức dầu và Thánh Thể được coi như hành trang của người tín hữu đang bước vào quê trời.




Đoạn III

CÁC BÍ TÍCH PHỤC VỤ SỰ HIỆP THÔNG
(The Sacraments in the service of Communion)
(1533-1658)

I. BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH
(The Sacrament of Holy Orders)
(1536-)

254. Bí tích Truyền Chức Thánh trong kế hoạch cứu độ của Chúa?
- Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã chọn dân Israel làm "dân tư tế" (Xh 19,6), cách riêng là chi tộc Lê vi (Ds 1, 48) được đặt ra để lo việc phụng vụ. Các tư tế xưa là hình ảnh thừa tác vụ trong Tân Ước.
Tất cả các hình bóng trước kia của chức tư tế trong Giao Ước cũ đều được thực hiện nơi Chúa Kitô, Đấng Trung gian độc nhất giữa Thiên Chúa và loài người. (1 Tm 2, 5).
Lễ hi sinh của Chúa Kitô là độc nhất, thực hiện một lần là đủ, lễ hi sinh này được hiện tại hóa trong Thánh lễ Misa qua thừa tác viên của Ngài là các linh mục.
255. Ai được thông phần chức linh mục của Chúa Kitô là đại tư tế?
- Một số người được Chúa chọn làm linh mục thừa tác (linh mục, Giám mục), phần Giáo dân được thông phần cách tổng quát vào chức tư tế của Chúa Kitô, vì họ đã được rửa tội.
256. Qua Bí tích Truyền Chức Thánh, các linh mục hành động thế nào?
- Giáo hội khẳng định rằng: bằng vào Bí tích Truyền Chức Thánh, linh mục hành động với danh vị Chúa kitô là Đầu (in persona Christi). Qua các thừa tác viên, Chúa Kitô hiện diện hữu hình nơi cộng đoàn tín hữu. Dù sự hiện diện này không được hiểu là họ được giữ gìn khỏi những yếu đuối của con người, khỏi óc thống trị, khỏi những sai lầm và cả tội lỗi nữa.
Các linh mục thừa tác hành động nhân Danh Chúa Kitô và nhân Danh toàn thể Giáo hội khi dâng lên Chúa lời cầu của Giáo hội, nhất là khi dâng Thánh lễ.
257. Bí tích Truyền Chức Thánh có mấy bậc?
- Có 3 bậc: Giám mục, linh mục và Phó tế.
258. Ý nghĩa của việc truyền chức Giám mục?
- Việc truyền chức Giám mục làm tròn đầy (fullness) Bí tích Truyền chức Thánh. Các Giám mục thay mặt cho chính Chúa Kitô, là th3/4y dạy đích thực đức tin, là chủ chăn (pastor) và là Giáo chủ (pontiff), và giữ vai trò của Chúa. Các Ngài được trao trắch nhiệm Thánh hóa, giảng dạy và cai quản.
259. Ý nghĩa việc truyền chức linh mục?
- Việc truyền chức linh mục là đặt những cộng tác viên (co-worker)của các Giám mục trong việc chu toàn sứ mạng tông đồ do Chúa Kitô đã ủy thác.
Trong Thánh lễ, các linh mục thay mặt Chúa Kitô (1556).
Cùng với các linh mục khác, họ trở thành linh mục đoàn duy nhất, làm cho mọi người thấy sự hiện diện của Giám mục, họ tùy thuộc Giám mục của mình. Họ gắn bó với nhau bằng tình huynh đệ Bí tích.
260. Ý nghĩa của việc truyền chức Phó tế?
- Truyền chức Phó tế là để có những người phục vụ (servant of all), họ phụ giúp Giám mục và linh mục trong việc cử hành các mầu nhiệm, nhất là Thánh Thể, cho rước lễ, chứng hôn, công bố Phúc âm, rao giảng Lời Chúa, chủ lễ an táng, lo việc bác ái.
261. Nghi thức chủ yếu của Bí tích Truyền Chức Thánh là gì?
- Là việc đặt tay và đọc lời kinh Thánh hiến.
262. Ai có thể ban Bí tích Truyền Chức Thánh?
- Các Giám mục đã thụ phong thành hiệu (valid) có thể truyền chức cho cả 3 bậc kể trên.
263. Ai có thể lãnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh?
- Chỉ có người đ3/4n ông, đã được rửa tội. Họ có thể trình bày, nhưng chỉ Giáo quyền có trắch nhiệm gọi họ lên chức. Họ phải ở độc thân để trọn vẹn thời giờ lo việc Chúa và dân Chúa.
264. Hiệu quả của Bí tích Truyền Chức Thánh?
- Nhờ Bí tích Truyền Chức Thánh, người ta trở nên có khả năng hành động như người đại diện Chúa Kitô.
Bí tích này có dấu ấn, nên chỉ ban một lần mà thôi,  dù họ có thể bỏ những nghĩa vụ liên hệ, ơn gọi của họ vẫn trường tồn.
Dù sự bất xứng của thừa tác viên cũng không ngăn cản Chúa Kitô hành động qua các Bí tích."Ánh sáng xuyên qua vật nhơ nhớp, ánh sáng cũng không bị nhơ bẩn" (T. Augutinô).
Các thừa tác phải gắng trau dồi, học hỏi, tu đức luôn luôn để xứng với tác vụ Thánh (1589).

II. BÍ TÍCH HÔN PHỐI
(The Sacrament of Matrimony)
(1601- 1666)

265. Ý định Thiên Chúa về Hôn nhân thế nào?
- Thiên Chúa sáng tạo con người, có nam có nữ, Cựu ước và Tân ước nhiều lần nói tới hôn nhân, tiệc cưới. Chúa sáng tạo con người vì tình yêu, Ngài kêu gọi họ tới tình yêu nam nữ, chúc phúc sinh sản, trợ giúp nhau (1602-05).
Nhưng hôn nhân đã bị  đe dọa bởi ghen tương, tội lỗi. Để chữa lành, người ta cần nhờ ơn Chúa (1606).
266. Chúa Kitô dạy gì về hôn nhân?
- Chúa Kitô đã đưa ý nghĩa hôn nhân trở về ý nghĩa nguyên thủy: một vợ một chồng, không li dị. Vì chính Thiên Chúa đã kết hợp người nam và người nữ, nên không ai có thể tự ý tháo cởi. Để trung thành với đòi hỏi này, đôi hôn nhân rất cần ơn trợ giúp của Chúa hầu vác thập giá theo Ngài (1614-15).
267. Không kết hôn có được không?
- Từ những ngày đầu của Giáo hội, đã có những người tình nguyện sống trinh khiết vì nước Trời để tự do lo việc Chúa và Giáo hội Chúa. Chính Chúa Kitô là mẫu gương cho những người này (1618-1620).
268. Cử hành Bí tích Hôn phối thế nào?
- Nghi thức Hôn phối thường được cử hành trong Thánh lễ. Sự hiến thân cho nhau trọn đời của hai người được kết hợp với việc Chúa Kitô hiến thân cho Giáo hội, họ rước Mình Máu Chúa để làm nên một thân thể trong Chúa Kitô (1621)
- Trước khi lãnh Bí tích Hôn nhân thành hiệu, xứng đáng và sinh hoa trái, đôi vợ chồng cần lãnh nhận Bí tích Sám hối (1622).
269. Ai là thừa tác viên trong nghi thức hôn phối?
- Chính đôi vợ chồng là thừa tác viên cho nhau, họ bày tỏ sự ưng thuận của mình trước Giáo hội (1623).
270. Thừa tác viên của Giáo hội đứng đó làm gì?
- Linh mục và Phó tế chỉ là người chứng kiến nhân Danh Giáo hội, ban phép lành, sự hiện diện này nói lên hôn nhân Công Giáo là một thực tại của Giáo hội (1630).
271. Điều kiện để lập giao Ước Hôn nhân thành sự là gì?
- Là một người nam, một người nữ, đã được Rửa tội, được tự do kết hôn, nói lên sự ưng thuận này (1625).
272. Tự do có nghĩa là gì?
- Là không bị cưỡng ép, không bị cản trở luật tự nhiên hoặc luật Giáo hội. Ưng thuận tự do là điều không thể thiếu trong việc thành hôn. Không có sự ưng thuận, sẽ không có hôn nhân (1626).
Sự ưng thuận phải là hành vi nhân linh, nói lên vợ chồng hiến mình cho nhau: Anh nhận em... Sự ưng thuận là hành vi ý chí, không bị bạo lực hoặc sợ hãi nghiêm trọng (1628).
273. Giáo hội có thể tuyên bố hôn nhân vô hiệu không?
-  Nếu cuộc hôn phối không thành, Giáo hội sẽ tuyên bố vô hiệu, sau khi tòa án có thẩm quyền của Giáo hội đã xem xét tình trạng đó. Khi đã tuyên bố bằng giấy tờ rồi, hai người được tự do thành hôn với người khác, những nghĩa vụ tự nhiên của sự phối hiệp trước đó được hủy bỏ (discharged)(1629).
274. Tại sao Giáo hội buộc tín hữu cử hành hôn phối theo thể thức của Giáo hội?
- Vì 4 lý do sau: - Vì Bí tích hôn nhân là hành vi phụng vụ nên phải cử hành công khai trong Thánh đường, - vì hôn nhân là một bậc trong Giáo hội, có quyền lợi và bổn phận giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái, vì hôn nhân là một bậc sống trong Giáo hội cần phải có sự chắc chắn về sự kết hôn nên cần người làm chứng, vì tính chất công khai của sự ưng thuận sẽ giúp cho hai người dễ trung thành hơn với lời hứa ưng thuận của hai người hơn (1631).
275. Có cần chuẩn bị thành hôn không?
- Để lời thưa ưng thuận của hai vợ chồng thật sự là một hành vi tự do và có trắch nhiệm, và để giao ước hôn nhân có những nền tảng con người và người Công Giáo được vững chắc bền bỉ, rất cần chuẩn bị hôn nhân (1632).
276. Giáo hội có cho kết hôn với người ngoài Công Giáo không?
- Giáo hội cho phép kết hôn với người rửa tội ở tôn Giáo khác, gọi là hôn phối hỗn hợp, nhưng Giáo hội đòi hỏi sự chú ý đặc biệt thận trọng của người phối ngẫu và các vị chủ chăn. Giáo hội khuyên không nên "coi nhẹ những khó khăn của những cuộc hôn nhân hỗn hợp này, thảm kịch chia rẽ tôn Giáo ngay tại gia đình mình, quan niệm về hôn nhân, sẽ trở thành căng thẳng trong hôn nhân, trong việc Giáo dục con cái. Có thể từ đó sinh ơ hờ với đạo của mình (1633-35).
277. Đâu là hiệu quả của Bí tích Hôn Phối?
- Hôn phối đã thành sinh hiệu quả là Sự Ràng buộc Vĩnh viễn và Độc quyền, được Chúa ban sức mạnh, được Thánh hiến bằng Bí tích đặc biệt để lo các bổn phận và sự quí trọng của bậc sống (1638).
- Sự Ràng buộc  được Thiên Chúa thiết lập sẽ không bao giờ được đoạn tiêu, không ai, kể cả Giáo hội, có thể tuyên bố rút lại, hoặc đi ngược lại sự an bài khôn ngoan của Thiên Chúa (1640).
- Ơn của BTHP sẽ giúp cho vợ chồng có sức vác thập giá theo Chúa, chỗi dậy sau khi sa ngã, biết tha thứ cho nhau, vác gánh nặng của nhau, tùng phục lẫn nhau trong sự kính sợ Chúa, thương nhau cách siêu nhiên, tế nhị và phong phú, được nếm trước bữa tiệc của Chiên Con trong niềm vui gia đình họ (1641-42).
278. Những lợi ích và những đòi hỏi của tình yêu Phu thê là gì?
- Tình yêu này đòi tính bất khả đoạn tiêu và sự trung thành trong việc trao ban dứt khoát cho nhau và mở ra về hướng sinh sản con cái (1643-1654).
Dù xem ra khó, vì phải trói buộc suốt đời với một người, điều quan trọng là loan báo Tin mừng Thiên Chúa yêu thương bằng một tình yêu chung thủy. Với ân sủng của Chúa, họ là chứng nhân, họ đáng được biết ơn và được cộng đoàn Giáo hội nâng đỡ (1648).
279. Giáo hội có chấp nhận cho ly thân, ly dị không?
- Có những tình trạng không thể duy trì sự sống chung được, vì nhiều lý do, khi ấy Giáo hội chấp nhận cho ly thân, nhưng họ không được kết hôn với người khác. Họ rất nên hòa giải (1649).
280. Khi tái hôn trái luật Giáo hội, có được Rước lễ không?
- Nhiều người Công Giáo dựa vào ly dị dân luật để tái hôn. Giáo hội không thể nhận hôn phối mới này là thành hiệu, nếu cuộc hôn nhân trước đã thành. Do đó, họ không thể được Rước lễ bao lâu còn tình trạng này. Họ cũng không được thi hành một số trắch nhiệm trong Giáo hội. Họ chỉ được lãnh Bí tích Sám hối, nếu họ thành thực hối hận và quyết chí sống trong khiết tịnh.
Tuy nhiên, Giáo hội và cộng đồng vẫn mời họ tham dự sinh hoạt của Giáo hội, mời họ Nghe Lời Chúa, dự Thánh lễ, kiên trì cầu nguyện, đóng góp bác ái, Giáo dục con cái trong đức tin hằng ngày sám hối xin ơn tha thứ (1650-51).
281. Bản chất của hôn nhân hướng về điều gì?
- Tự bản chất, hôn phối và tình yêu vợ chồng hướng về sinh sản và Giáo dục con cái. Đây là đỉnh cao của hôn nhân (1652). Cha mẹ truyền lại cho con đời sống luân lý, tinh thần và siêu nhiên. Cha mẹ là những nhà  Giáo dục đầu tiên của con cái (1653).
Dù không được Chúa ban con cái, vợ chồng vẫn có cuộc đời hôn nhân đầy đủ ý nghĩa. Cuộc hôn nhân của họ tỏa sáng sự phong phú của bác ái vì đón nhận và hi sinh (1654).
282. Sao gọi gia đình là Giáo hội tại gia?
- Vì Chúa Kitô đã sinh ra và lớn lên trong gia đình Thánh , vì thế các gia đình cũng cần trở nên các Giáo hội nhỏ, trong đó các phần tử Thánh hóa nhau, truyền Giáo cho nhau bằng lời nói và gương sáng đức tin: cầu nguyện, từ mình (tập chịu đựng), bác ái (tha thứ) (1655-57).
283. Giáo hội nâng đỡ người cơ cực thế nào?
- Nhiều người sống độc thân bất đắc dĩ, một số người không có gia đình Máu mủ vì nghèo khó. Giáo hội là nhà  của những người lam lũ cực nhọc gánh nặng (Mt 11, 28) (1658)


Đoạn IV

NHỮNG CỬ HÀNH PHỤNG VỤ KHÁC
(Other Liturgical Celebrations)
CÁC PHỤ TÍCH
( SACRAMENTALS)
(1667-1690)

284. Các Phụ tích (còn gọi là Á Bí tích) Giáo hội lập để làm gì?
- Các Phụ tích là những dấu hiệu linh Thánh, phần nào giống Các Bí tích, nói lên những hiệu quả thiêng liêng nhờ lời cầu nguyện của Giáo hội. Nhờ các Phụ tích, người ta chuẩn bị đón ơn Thánh của các Bí tích, và Thánh hóa các hoàn cảnh khác nhau của cuộc đời Kitô hữu.
285. Kể ra một số Phụ tích ?
- Là sự Thánh hóa một số thừa tác vụ như: a/ Thánh hiến con người cho Thiên Chúa (Thánh hiến viện phụ, chức đọc Sách, giúp lễ, Giáo lý viên, thừa tác viên Thánh thể...) ; b/ Thánh hiến một số tình trạng đời sống như Thánh hiến trinh nữ, khấn dòng; c/ Thánh hiến một số sự vật (chén lễ, bàn thờ, tràng hạt, ảnh tượng, dầu Thánh, y phục Thánh...Thánh hiến nơi chốn để cử hành phụng vụ (nhà  thờ).
Các Phụ tích luôn gồm một lời kinh, kèm theo một dấu hiệu như sự đặt tay, làm dấu Thánh giá, rảy nước Thánh (gợi lại Bí tích Rửa tội).
286. Ai được phép trừ quỉ?
- Việc trừ quỉ đòi phải có sự chỉ định riêng của Đức Giám mục. Cần phân biệt các bệnh tâm thần thuộc thẩm quyền y khoa, chứ không thuộc lãnh vực trừ tà ma.
Lòng đạo đức bình dân cũng bao gồm  việc tôn kính các Thánh tích, đi viếng các đền Thánh, đi hành hương, đi kiệu, đi đàng Thánh giá, vũ điệu tôn Giáo, lần hạt mân côi, tôn kính ảnh tượng Thánh...Những hình thức này nối dài sinh hoạt phụng vụ của Giáo hội., nhưng không thể thay thế phụng vụ., phải điều hành sao cho hòa hợp với phụng vụ và đưa đến phụng vụ.
287. Nghi lễ an táng Kitô Giáo như thế nào?
- Ý nghĩa cái chết theo Kitô Giáo được mặc khải trong ánh sáng vượt qua của Chúa Kitô, ngày lìa đời là ngày tín hữu chấm dứt cuộc sống Bí tích của họ, để khai mạc cuộc sống mới.
Giáo hội đã cưu mang con cái mình trong cuộc sống dương thế, cũng tiễn họ đến tận cùng con đường đặt họ vào tay Cha trên trời. Sự hiến dâng này được cử hành đầy đủ bằng Thánh lễ, các lời chúc lành, trước sau Thánh lễ An táng đều là những phụ tích.
Nghi thức an táng không đem lại Bí tích hoặc phụ tích cho người đã chết, vì họ đã ra ngoài kế hoạch Bí tích, nhưng là nói lên sự hiệp thông giữa người sống và người quá cố, loan báo cho cộng đoàn về cuộc sống vĩnh cửu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét